Trương Vĩnh Kư và thời niên thiếu

 

                             Tiến sĩ Trần Văn Đạt

 

 

1. Tổng quan

    Ông Trương Vĩnh Kư là một nhà thâm nho, nhuần đạo và cũng là nhà trí thức quốc tế luôn hoài bảo góp phần mở mang, khai phóng văn hóa dân tộc. Các tư liệu, tác phẩm văn hóa của Ông đă nói lên ḷng yêu nước thiết tha, nỗi lo lắng cho một dân tộc chậm tiến đang đứng trước phong trào thực dân thế giới. Ông không mỏi mệt cổ vơ cho một nền tân học và quảng bá chữ Quốc Ngữ trên toàn quốc, nhờ đó mang luồng sinh khí canh tân vào đất nuớc để có thể tự tồn. Nhiều nhà nghiên cứu thế giới và trong nước công nhận Trương tiên sinh là một nhà ngôn ngữ quán chúng và một nhà văn hóa lỗi lạc của Việt Nam vào hạ bán thế kỷ XIX. Ông là người Việt đầu tiên được người ngoại quốc vinh danh là một trong 18 nhà thông thái thế giới của thế kỷ XIX về văn hóa và khoa học. Nhà văn hóa Pháp Littré đă viết:”...Tất cả các nhà ngôn ngữ học của nước Pháp vô cùng ngạc nhiên trước cuốn ’Khảo luận về các ngôn ngữ phương Đông’ của bạn. Không ai nghĩ công tŕnh này lại do một người An Nam viết bởi tính độc đáo của nó, bởi lần đầu tiên môt người bản xứ như Trương vĩnh Kư lại có cái nh́n về ‘bác ngữ học’ nhằm bày tỏ cho những nhà ngôn ngữ học châu Âu nhiều tư liệu và đánh giá rất khoa học.Cuốn khảo luận này chắc chắn mau chóng nâng bạn lên hàng những nhà ngôn ngữ học thế giới. Và các nhà ngôn ngữ học của Pháp sẽ coi bạn là niềm tin tự hào của chính ḿnh...”. Chúng ta cảm ơn Ông đă mang danh dự lớn lao về cho nước Việt Nam nhỏ bé trong thời kỳ c̣n kém mở mang. Ông c̣n là tổ sư của nghề làm báo bằng chữ quốc ngữ của nước, mang các thông tin đến người dân thầm lặng dù c̣n hạn hẹp lúc ban đầu. Trương tiên sinh quả là một hiện tượng đặc biệt của lịch sử Việt Nam. Ông nổi bật, khác thường trong cung cách xử thế vào thời buổi nhiểu nhương, xă hội loạn lạc. Mặc dù sống trong bất hạnh của thời thơ ấu, mồ côi cha từ 3 tuổi, mất mẹ lúc 21 tuổi, ông Trương Vĩnh Kư có sức sống mănh liệt như một cây trúc non cố chen mọc giữa rừng hoang để cất tiếng vi vu qua cơn gió chướng, tạo âm hưởng đa dạng đa màu trên khắp núi sông. Dù thông minh tuyệt đỉnh, Ông cam chịu thu ḿnh làm kiếp tằm trong đêm, nối kết liên hợp Đông và Tây, tụ kén tinh anh thêu hoa dệt gấm văn hóa dân tộc hiếm quí. Trương tiên sinh đă sống với hơn sáu mươi năm cuộc đời lăn lộn, vinh nhục, nhưng tâm hồn luôn khẳng định yêu nước, cho đến lúc buông tay trong hoàn cảnh cơ hàn mà ḷng không được b́nh an. Tại sao thế? Để hiểu rơ hơn về con người và cuộc đời thăng trầm của nhà thông thái Trương Vĩnh Kư, chúng ta lần lượt xét qua các bối cảnh lịch sử và biến cố lớn xảy ra trong nước vào thời niên thiếu của Ông, đă để lại dấu ấn định mệnh ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc hành tŕnh vào đời sau này.

 

 2. Bối cảnh lịch sử của Việt Nam vào thời Trương Vĩnh Kư

    Ông Trương Vĩnh Kư sinh ngày 6-12-1837, tại Cái Mơn, làng Vĩnh Thạnh, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long lúc bấy giờ (hiện nay huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre) và qui thiên ngày 1-9-1898 ở Chợ Quán, Sài G̣n. Cuộc đời của Ông trải dài qua tất cả 9 đời vua Nguyễn từ Minh Mạng đến Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Ḥa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh và Thành Thái, với biết bao biến cố trọng đại liên tiếp xảy ra trong nước, như chính sách cấm đạo Gia Tô, ngăn cấm ngoại thương, các vụ nổi loạn, xung đột với nước Xiêm, nhiều cuộc khởi nghĩa của dân chúng, và cuộc xâm lăng vũ lực của Pháp. Ông trưởng thành trong một hoàn cảnh lịch sử hết sức khó khăn của đất nước, đặc biệt sự va chạm giữa hai nền văn hóa Âu và Á, mặc dù cuộc tiếp xúc của hai phương này đă có khá lâu.

Chính sách bài đạo sắt máu Theo sử liệu, người Âu Châu đă đến viếng nước ta cách nay gần 2000 năm hoặc hơn. Vào năm 226 sau Công Nguyên, đă có người từ La Mă đến nước Giao Chỉ trên đường đi đến nước Ngô. Vào thế kỷ thứ VII, có ít người theo đạo Cảnh Giáo (Nestoriens), mà người đầu tiên tên Olopen đă từ xứ Ba Tư đến thành Hoa Lư. Đến thế kỷ XIII, ông Marco Polo, người Ư làm việc cho Mông Cổ có ghé nước ta. Ông này nổi tiếng ở nước Ư Đại Lợi về du nhập ḿ sợi của Tàu để làm ra spaghetti, thức ăn chính của họ ngày nay. Từ thế kỷ XV-XVII, có nhiều người Tây phương đến thăm viếng nước ta để mở mang thương măi, truyền giáo và t́m kiếm thuộc địa trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh. Công cuộc truyền giáo lúc đầu c̣n lẻ tẻ nên triều đ́nh chưa lưu ư. Vào đời vua Lê Trang Tông (1532-1533), đă có giáo sĩ ḍng Franciscain đến Bắc Hà lén giảng đạo Thiên Chúa ở làng Ninh Cường, làng Quần Anh, huyện Nam Trực, làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy thuộc các tỉnh Nam Định, Thái B́nh và Ninh B́nh. Tiếp theo, giáo sĩ P. Busomi đến Nam Hà vào đời chúa Săi (1615), Giáo sĩ Jean A. Rhodes đến giảng kinh Phúc Âm ở Phú Xuân,... Họ đă sáng tạo chữ “Quốc Ngữ” vào đầu thế kỷ XVII để có thể tiếp xúc, giao thiệp với người dân và rao giảng đạo. Lúc ban đầu, các chúa Trịnh và Nguyễn có cảm t́nh với các giáo sĩ, không phải v́ đạo pháp hấp dẫn, mà thật ra muốn nhờ họ giúp phát triển kỹ thuật đúc súng, đóng tàu, binh lược và mua khí giới. Cho đến khi các chúa nhận thấy không c̣n khai thác được các giáo sĩ nữa và e ngại đạo Thiên Chúa bành trướng lan tràn, nên có chính sách “bế quan tỏa cảng” và bài đạo “sát tả“. Trong thời đại phong kiến này, đạo Thiên Chúa quá mới mẻ đối với các v́ vua chúa và đ́nh thần, vả lại cung cách hành đạo và lư thuyết của đạo này khác hẳn với Nho đạo vốn có hàng trăm năm và được xem là chính giáo. Năm 1678, Ông Boureau-Deslandes yết kiến Chúa Trịnh ở Bắc Hà và dâng thơ của vua Louis XIV để xin giảng đạo. Năm 1682, giám mục Metellopolis và Lanneau vào Huế xin gặp chúa Hiền. Sau đó, có nhiều ngưới Pháp ghé thăm Việt Nam để xin buôn bán hoặc truyền giáo. Các chiến dịch bài đạo bắt đầu từ năm 1631 dưới thời chúa Thượng ở trong Nam và từ 1754 dưới đời Cảnh Hưng ở Bắc. Tuy nhiên, chiến dịch bài đạo có phần mạnh mẽ, gay gắt hơn ở ngoài Bắc v́ vua Lê - chúa Trịnh không nhận được nhiều giúp đỡ của các người Tây Phương. Cho đến triều đại Tây Sơn, các chiến dịch bài giáo không c̣n nhắc đến khi trong nước đang có nhiều loạn lạc. Vào lúc khởi nghiệp đế vương, vua Gia Long không chủ trương cấm đạo, nhưng ba v́ vua kế vị Ngài - Minh Mạng, Thiệu Tri và Tự Đức đă áp dụng cứng rắn chính sách cấm giao thương với Âu Mỹ và ra lệnh bài đạo Gia Tô càng ngày càng sắt máu hơn, gây tang tóc lầm than nhiều nơi để cuối cùng đất nước bị xâm chiếm. Năm 1825, chiếc tàu Théthis vào Đà Nẵng và để giáo sĩ Rogerot ở lại đi giảng đạo khắp nơi. Nhân dịp này, vua Minh Mạng ra dụ cấm đạo và truyền cho các quan phải khám xét kỹ lưỡng các ghe tàu ghé vào cửa biển. Dụ nói rằng:“Đạo phương Tây là tả đạo, làm mê hoặc ḷng người và hủy hoại phong tục, cho nên phải nghiêm cấm để khiến người ta phải theo chính đạo“. Năm 1855, vào thời vua Tự Đức một đạo vụ khác khắc khe hơn là trọng thưởng những ai tố cáo giáo dân c̣n hành đạo và bắt được giáo sĩ. Do đó, nhiều nhóm giáo dân và giáo sĩ hành đạo lén lút ở dưới hầm hố, trong rừng, trên núi, nơi hoang dă. Những cuộc càn quét bắt bớ của quân triều đ́nh càng ngày càng tăng, các tu viện và nhà thờ bị san bằng, đốt cháy và những người theo đạo bị truy sát không ngừng, ngay cả ở Cái Mơn. Trong khoảng thời gian 1848-1858, chủng sinh Trương Vĩnh Kư đang theo học đạo ở chủng viện Pinhalu trong 4 năm và sau đó đi qua học ở chủng viện Giáo Hoàng trên đảo Penang thuộc nước Mă Lai trong 6 năm. Vào tháng 7 năm 1858, Trung Tướng Pháp Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và Tây Ban Nha vào Đà Nẵng đánh phá, chiếm thành An Hải và Tôn Hải. Trong năm này Trương Vĩnh Kư, 21 tuổi, vừa trở về Việt Nam để thọ tang mẹ.

Pháp chiếm thành Gia Định (tháng giêng 1859), Định Tường và Biên Ḥa (1961). Triều đ́nh Huế kư Hiệp Ước 1862 nhường 3 tỉnh miền Đông. Tháng 6-1862, vua Tự Đức gởi phái đoàn gồm Phan Thanh Giản, Chánh Sứ; Phạm Phú Thứ, Phó Sứ và Nguyễn Khắc Đản, Bồi Sứ (quan án sát sứ tỉnh Quảng Nam) đem cống phẩm sang Pháp và Tây Ban Nha để chuộc lại 3 tỉnh này. Ông Trương Vĩnh Kư được mời tham dự phái đoàn với tư cách thông ngôn. Chuyến đi này của phái đoàn Phan Thanh Giản bị hoàn toàn thất bại v́ Hoàng Đế Napoléon III và Chính phủ Pháp chẳng hứa hẹn ǵ. Trái lại, chuyến công du này đă giúp cho Trương tiên sinh có cơ hội tiếp cận với nền văn minh hiện đại của Châu Âu và hạnh ngộ với nhiều gương mặt sáng giá nổi bật như nhà văn hào Victor Hugo, sử gia danh tiếng Ernest Renan, văn hào Émile Littré, sử gia Victor Duruy, đặc biệt với Bác Sĩ và Viện Sĩ Paul Bert ở Pháp; Nữ Hoàng Isabelle ở Tây Ban Nha và Đức Giáo Hoàng Pio Nono IX (1846-1876) ở Rome. Chuyến xuất ngoại này là một thành công lớn của Trương Vĩnh Kư, đă mở một bước ngoặc mới cho việc hành xử, sự nghiệp và cuộc đời c̣n lại của ḿnh. Ông có được tầm nh́n mới về cuộc đời và hướng phục vụ đất nước của ḿnh trong lúc phong trào thực dân thế giới đang lên. Tóm lại, hơn một ngàn năm lệ thuộc Tàu đă làm cho tâm hồn và con người Việt Nam tiêm nhiễm nho học rất sâu sắc. Từ nếp sống, suy nghĩ đều bị ràng buộc với tam cương ngũ thường. Ngoài những điều hay của thuần phong mỹ tục Đông Phương, nền nho giáo của Tàu đă tạo cho nước Việt Nam một xă hội phong kiến, có tinh thần ỷ lại, xem Tàu là nước có nền văn minh vĩ đại duy nhất của thế giới. Do đó, triều đ́nh Nguyễn có tinh thần tự kiêu tự măn, không chịu học hỏi thêm từ bên ngoài, không am tường t́nh h́nh thế giới và không biết đến trào lưu tư tưởng tiến bộ bấy giờ. Triều đ́nh đă nhiều lần cầu viện Tàu để chống Pháp, nhưng không biết rằng nước này cũng đang bị các nước Nhật, Âu, Mỹ uy hiếp, lấn áp. V́ tầm nh́n thiển cận và quyền lợi của lớp người cai trị, họ kiên tŕ thi hành các chính sách bế quan tỏa cảng lỗi thời và bài đạo mù quáng. Trong khi đó, dân chúng khổ sở vô vàn, loạn lạc khắp nơi, đất nước yếu kém, tụt hậu và cuối cùng bị thực dân xâm chiếm và đô hộ gần trăm năm. Khoảng đời của Trương tiên sinh đă trải qua bối cảnh đất nước và xă hội hết sức đen tối như thế.

 

 3. Thời kỳ ấu thơ của Trương Vĩnh Kư ở Cái Mơn

    Ông Trương Vĩnh Kư từ lúc lọt ḷng mẹ ở Cái Mơn, xă Vĩnh Thạnh (6-12-1837) cho đến lúc qui thiên Ở Chợ Quán, Sài G̣n (1-9-1898) đă trải qua bao cơn sóng gió của bản thân, gia đ́nh, tôn giáo và đất nước. Cha của Ông là cụ Trương Chánh Thi, quê quán ở B́nh Định theo cha vào Nam lập nghiệp ở Cái Mơn, làng Vĩnh Thạnh, bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ông là một nhà nho học, thích thi phú, nhưng được bổ nhậm làm lănh binh dưới triều Minh Mạng. Ông Lănh binh Trương kết hôn với bà Nguyễn Thị Châu, con của một gia đ́nh theo đạo Thiên Chúa lâu năm ở Cái Mơn. Ông là con chiên của Chúa được Triều đ́nh Nguyễn (Minh Mạng và Thiệu Trị) chấp nhận làm quan, nhưng đi trấn thủ ở Nam Vang. Ông thường bị bệnh sốt rét và cuối cùng chết v́ bệnh này, để xác ở xứ người vào lúc Ông Trương Vĩnh Kư vừa được 3 tuổi. Vợ của Ông là Bà Nguyễn Thị Châu, một người vợ hiền, lam lũ, sống cô đơn nuôi con để trông đợi chồng về. Bà đă sanh 3 nguời con, gồm một gái và hai trai. Con gái đầu ḷng sau khi sanh th́ chết. Cả hai người con trai đều thông minh, nhưng Ông Trương Vĩnh Kư có phần trội hơn ngay từ thuở nhỏ. Theo nhận xét của thầy giáo Học, người đỡ đầu và ân nhân lớn của gia đ́nh bà Châu sau khi chồng mất, Cậu Kư là một đứa bé có bẩm chất thông minh, trí nhớ vượt hẳn người thường. Trong hoàn cảnh góa bụa, sau khi cha ruột bị giết v́ đạo, nhà cửa bị đốt cháy thành tro bụi, Bà Châu và hai con sống rất nghèo túng, với sự trợ giúp của người đồng hương, nhứt là thầy giáo Học, người bạn thâm giao của chồng bà. Khi có những chiến dịch bài đạo càn quét ở Cái Mơn, bà phải dẫn hai con đi lánh nạn (Hoàng Lại Giang, 2001). Lúc bấy giờ Cái Mơn là một cái nôi của đạo Gia Tô của tỉnh Vĩnh Long. Ông Trương Vĩnh Kư lúc mới sinh ra rất ốm yếu, khó nuôi. Theo chuyện kể trong gia đ́nh, có lúc ông bị bệnh khóc nhiều ngày đêm liên tiếp, không ăn uống được ǵ nhiều, nên gia đ́nh đă lo chuẩn bị hậu sự cho Ông. Nhưng may thay như có kỳ tích, Ông hết khóc, bắt đầu b́nh phục và sống tươi tỉnh, mạnh khoẻ trở lại. Ông Kư là đứa bé thông minh, ốm cao, có vầng trán rộng, đôi mắt to tṛn. Ông có trí nhớ một cách bất thường đến nỗi làm cho thầy giáo và những người chung quanh ngạc nhiên. Ngay từ lúc nhỏ, đầu óc của Ông như một máy chụp ảnh, chỉ đọc qua một số trang sách, ông nhớ không thiếu sót một chi tiết nào. Đó là đặc tính của những đứa trẻ thông minh, sáng dạ. Khi được 3 tuổi, Ông đă thuộc làu Tam tự Kinh, một quyển sách vỡ ḷng của nho học. Lúc 4 tuổi Ông học viết và lúc 5 tuổi cặp sáchđến trường để học với giáo Học. Sau vài ba năm, Ông học thông suốt Minh Tâm Bữu Giám, đọc Tứ Thư, Ngũ Kinh, thuộc nhiều bài thơ đời Đường, đời Tống... Nhờ sáng dạ, Ông tự học nhiều hơn học ở nhà trường. Sau đó ít lâu việc học của Ông tiến bộ nhanh, vượt cả anh ruột tên Trương Chánh Sử và các đàn anh khác, đến nỗi thầy giáo Học cho Ông là một hiện tượng đặc biệt. Ngoài ra, theo lời của những người thân hậu bối, lúc nhỏ Ông c̣n thuộc nhớ nhiều bài ca dao dài mà người lớn không biết . Khác biệt hơn các đứa trẻ trong xóm, ngoài giờ đến trường để học, Ông Kư thích đọc sách ở nhà do cha Ông mang từ miền Trung vào lúc xưa và gởi cho thầy Học giữ, chẳng hạn, sách Nhất Thiên Tự, Tam Thiên Tự, Ngũ Thiên Tự, Minh Đạo Gia Huấn, thơ Đường, Lư Bạch, Đổ Phủ, Thơ Tống... Do đó, khi nói chuyện với Mẹ, thầy Học và những người lớn khác, Ông tỏ vẽ như người lớn, thường dẫn lời nói của thánh hiền, gây ngạc nhiên cho mọi người. Thày giáo Học và nhiều người trong thôn gọi ông là “thần đồng“. Ngoài Thầy Học, gia đ́nh Ông Kư c̣n có người bạn tốt bụng khác là Cố Tám. Sau khi ông Trương chánh Thi chết, Cố Tám ngoài lén lút đi giảng đạo trong xă, thỉnh thoảng ghé thăm viếng, giúp đở gia đ́nh bà Châu. Ông chỉ dạy thêm cho cậu Kư học chữ La Tinh để đọc Thánh Kinh mà Kư hiếu kỳ muốn biết, dạy chữ Nôm và ít chữ sau này gọi chữ „Quốc Ngữ“. Ông nhận thấy cậu Kư c̣n nhỏ mà có đầu óc thông minh hơn người, chỉ biết thú đọc sách hơn đi chơi đùa, có chí cầu tiến, nên Ông cố thuyết phục bà Châu cho con theo Ông để có thể tiếp tục đường học vấn xa hơn, dĩ nhiên để phục vụ cho đạo sau này. Bà Châu hết sức ngạc nhiên và trong ḷng lo âu rất nhiều. Ḷng Bà đang đau như đứt ruột khi cho đứa con lớn của ḿnh - cậu Sử - lên tỉnh học rồi, nay làm sao để mất đi đứa con út. Làm sao Bà có thể chịu đựng nỗi cô đơn, một bóng một h́nh ở trong căn nhà hẽo lánh như vậy! Cha mẹ nào cũng thương con ngh́n trùng và sống hy sinh v́ con ḿnh. Dù ḷng đau xót tột độ khi phải xa ĺa con, nhưng khi Bà Châu nghĩ về tương lai sáng lạn của con sau này, nên cuối cùng đồng ư cho cậu Kư theo Cố Tám đi học. Lúc đó Kư vừa tṛn 9 tuổi. Cố Tám giờ đă già yếu, không biết về trời đất lúc nào, nên sau đó nhờ Thừa Ḥa, người Pháp tên Borelle ở tu viện Cái Nhum nhận nuôi cậu Kư ăn học. Rồi ông này phải đi xa nên nhờ Cố Long, ngưới Pháp tên là Bouilleaux, chăm sóc lo hộ việc nuôi dưỡng và học hành của cậu Kư. Chính sách bài đạo của vua Thiệu Trị lúc đầu c̣n cởi mở, nhưng càng về sau gay gắt hơn như thời vua Minh Mạng. Đến đời vua Tự Đức, với chỉ dụ sát tả ngày 14-8-1948 (Cậu Kư mới 11 tuổi), cảnh bắt bớ, giết người đạo lại tái diễn khốc liệt hơn. Hàng trăm dân đạo bị bắt và bị sát hại trong các chiến dịch tàn bạo. Dân họ đạo ở Cái Mơn và Cái Nhum không tránh khỏi tai kiếp mới này, dù hai nơi này đă từng bị hai lần đốt cháy tan hoang. Rồi vào một buổi sáng sớm, lính triều đ́nh bao vây Cái Nhum. Lữa cháy cả vùng, tiếng la hét, khóc than khắp nơi. Cố Long phải gian nan và nguy hiểm đưa Kư chạy trốn và t́m đường vượt qua Cao Miên. Cuối cùng Cố Long đă đem được cậu Kư và 9 chủng sinh từ các chủng viện khác đến chủng viện Pinhalu b́nh an để học tập về thần học và triết học.

 4. Thời niên thiếu ở hải ngoại

    Chủng viện Pinhalu mới được xây cất ở giữa một rừng thốt nốt hoang vu gần sông Mekong và cách Nam Vang độ 6 dặm. Đây là một chủng viện dành cho cả vùng Đông Nam Á và Trung Hoa. Lớp học có tất cả 25 chủng sinh có tuổi từ 13 đến 15 và Cậu Kư là người nhỏ nhứt, mới 11 tuổi. Tất cả những chủng sinh đều được tuyển chọn ở hạng nhứt hoặc nh́ của các chủng viện trong vùng. Trong những buổi học, do nhiều chủng sinh c̣n biết quá ít các danh từ La Tinh và theo yêu cầu của thầy giáo, Cậu Kư mạnh dạn đứng ra thông dịch các bài giảng bằng tiếng này sang tiếng Nhựt, tiếng Hán, tiếng Thái, tiếng Việt...làm cho các bạn đồng lớp thán phục không ít. Một năm sau, Ông lại nói được tiếng Lào, tiếng Miên, tiếng Ấn Độ,... Ông biết được nhiều ngoại ngữ do học hỏi từ bạn bè, sách tự điển, nhứt là nhờ năng khiếu ngữ học của ḿnh. Ông tự t́m ra qui luật ngữ pháp để học các tiếng nước ngoài nhanh và dễ dàng. Văn Hào Pháp Littré đă viết rằng „...Trên trái đất này rất khó t́m ra người thứ hai say mê ngôn ngữ như Trương Vĩnh Kư. Gặp người Anh, Trương Vĩnh Kư nói bằng tiếng Anh nhuần nhị như người Luân Đôn. Tiếp xúc với người Ư Đại Lợi, người Y Pha Nho, người Bồ Đào Nha... hay người Nhựt Bổn, Mă Lai, Xiêm...,Trương Vĩnh Kư đều nói đúng theo âm luật của kinh đô nước đó... Sự hiểu biết tới 26 ngoại ngữ của P. Trương Vĩnh Kư đủ để loài người tôn vinh anh như một nhà bác ngữ học vào bực nhứt của thời nay...“. Vào ngày măn khóa học ở chủng viện Pinhalu, Ông Trương Vĩnh Kư được chọn là một chủng sinh xuất sắc, đỗ đầu lớp và được tuyển lựa cùng hai người nữa để tiếp tục đi học ở chủng viện Giáo Hoàng thuộc đảo Penang, Mă Lai. Ông dự tính trở về quê hương để gặp lại mẹ và anh Sử cũng như xóm làng, nhưng Cha Long khuyên Kư nên tiếp tục đi học, v́ về nước lúc này rất nguy hiểm do chính sách bài đạo cực đoan của vua Minh Mạng+1) Lúc 15 tuổi, Ông đến Penang, một đảo nhỏ, lúc xưa rất nghèo nàn và dân cư thưa thớt. Người Anh thấy tiềm năng lớn của đảo này nên mua để phát triển thành một thương cảng sầm uất, có tính cách hiện đại của người Âu Châu. Khi đặt chân đến nơi, cậu Kư rất ngạc nhiên khi thấy một vùng đảo ở vùng Đông Nam Á mà có nếp sinh hoạt cơ giới ồn ào, một sự phát triển lạ thường mà Ông chưa từng thấy ở nước ḿnh và Cao Miên. Sau đó, Ông gặp và quen biết thừa sai Lefèbvre, một vị giáo sĩ trước kia từng bị lănh án tử h́nh năm 1845, nhưng nhờ can thiệp của Đô Đốc Cécile nên được vua Thiệu Trị thả ra. Sau đó Cha trở về Pháp, rồi đi La Mă, đến Ma Cau và cuối cùng ở lại Penang. Vị giáo sĩ nầy rất mến yêu cậu Kư v́ thấy Kư là một chủng sinh giỏi, cực kỳ thông minh và là người đến từ Việt Nam, nơi mà ông đến truyền đạo và có nhiều kỷ niệm khó quên. Trong thời gian ở chủng viện Penang, tài năng, đầu óc và trí tuệ thông minh của cậu Kư phát huy tột độ. Ông học một hiểu mười nhờ trí nhớ lâu dài, sách vở ở thư viện và giảng dạy của nhà trường. Thú vui duy nhứt của ông và cũng để vơi bớt nỗi nhớ quê hương, mẹ và anh Sử, Ông Trương Vĩnh Kư thường đến thư viện ngoài giờ ở lớp học. Ông đọc rất nhiều sách Hán, Pháp, Anh, Hy Lạp, Tây Ban Nha...Ông tiếp nhận được rất nhiều tư tưởng, kiến thức của người xưa cả Đông và Tây nhờ trí thông minh, khả năng ngôn ngữ và trí nhớ đặc biệt của ḿnh. Từ nhỏ, Ông Trương Vĩnh Kư mê say đọc sách. Bất kỳ loại sách ǵ, nếu thấy hữu ích, mới lạ Ông đều đọc qua. Bây giờ có dịp may mắn tu học ở chủng viện quốc tế này, Ông lại có cơ hội tốt để gần gũi với sách báo và tài liệu của chủng viện. Đặc biệt ở đây Ông mê say đọc 3 quyển sách mà Cố Long nhận được từ La Mă và trao tặng Ông; đó là cuốn sách „Từ điển Việt-Bồ-La“, „Văn phạm Việt ngữ“ và „Phép giảng tám ngày“ của Alexandre de Rhodes (Hoàng Lại Giang, 2001). Đây là công tŕnh văn hóa to lớn được Ông Rhodes tổng hợp và biên soạn lại từ các công tŕnh sơ khởi của các giáo sĩ đi trước như: giáo sĩ Francesco de Pina, giáo sĩ Gaspar d'Amaral, giáo sĩ Antonio Barbosa, người Bồ Đào Nha,... Đây là một loại ngôn ngữ được sáng tác theo lối phát âm, giúp cho người học dễ dàng, dễ hiểu hơn so với loại chữ Hán tượng h́nh. Khi đọc chữ Hán, người không học mà lắng nghe không hiểu biết ǵ cả, làm sao tạo được lối truyền thông hữu hiệu giữa cấp thống trị và người dân hèn. Trái lại, khi đọc âm của chữ Quốc Ngữ người nghe thông hiểu ngay. Sau hai trăm năm tiến hóa, loại chữ này đă được cải tiến và h́nh thành một loại ngôn ngữ có thể truyền bá đến quần chúng sử dụng. Nhưng ai là người dẫn đầu việc truyền bá này? Như Ông Rhodes đă viết lời tựa của quyển sách Từ điển Việt-La-Bồ: „...Với giáo sĩ cuốn sách này sẽ trở thành cẩm nang, nhưng với trí thức người Việt th́ cuốn từ điển này hăy c̣n mới mẻ... Sự thay đổi một thói quen, dù rất nhỏ, như nếp sinh hoạt gia đ́nh, hay một tục lệ lạc hậu cũng là điều không dễ dàng...,huống chi là sự thay đổi cả một hệ thống chữ viết của một dân tộc vốn đă coi chữ Hán là „Quốc gia văn tự“ từ gần 2000 năm về trước! Tôi thật không dám chắc sự thành bại của ḿnh. Tôi không dám đoán trước bao nhiêu năm nữa sẽ có người hiểu tôi...“. Cậu Kư bắt đầu suy nghĩ về tương lai và vai tṛ của loại Việt ngữ này với tầm ảnh hưởng đến tiềm năng khai hóa dân tộc và có thể là một h́nh thức thoát ly lệ thuộc sâu đậm hàng ngàn năm vào nền văn hóa cổ xưa của một nước đầy tham vọng. Ông Trương Vĩnh Kư đă ghi trong cuốn sổ b́nh sanh của ḿnh: „ ...Ba công tŕnh tiếng Việt do giáo sĩ A. de Rhodes lừng lững như ba ngọn núi, người nào leo lên được ba „ḥn núi“ ấy chắc sẽ nh́n thấy toàn cầu...Chính thứ chữ viết ghi theo từng âm này của A. de Rhodes chuẩn mực hóa biểu hiện hệ thống ngữ âm theo hướng siêu phương ngữ. Cùng với sự tiện lợi là sự tiến bộ của thứ chữ này trong việc ḥa nhập với nhiều quốc gia tân tiến... Tôi không bao giờ hẹp ḥi coi đây là công cụ của nhà truyền giáo. Với tôi, đây là gia sản quư báu của dân tộc. Tôi sẽ giữ ǵn, nâng niu nó, tôi sẽ làm hết ḿnh để quảng bá nó...“ (Hoàng Lại Giang, 2001).

 -----------------------------------------------------

 +1) có tài liệu cho biết Ông đă về thăm nhà

Lịch sử đă đi qua một lần với áp dụng chữ Nôm do Ông Hàn Thuyên vào đời Trần sáng lập cũng do từ ư thức tinh thần quốc gia, độc lập của dân tộc; nhưng chữ Hán vẫn c̣n tồn tại và chiếm một vai tṛ quan trọng cho đến đầu thế kỷ XX ở Việt Nam. Hàn Quốc và Nhựt Bổn đă thành công thoát ly Hán ngữ với loại chữ „Nôm“ do ḿnh sáng tạo. Từ đó cho thấy Việt Nam lúc bấy giờ đă tự măn và ỷ lại hoàn toàn vào một nền văn minh cho là siêu việt trên thế giới. Trong một dịp viếng thăm chủng viện, viên Toàn Quyền Penang yêu cầu chủng viện tổ chức một cuộc thi bằng tiếng La Tinh, với giải thưởng 100 bảng Anh, về đề tài (i) Phép nhiệm mầu và lịch sử Đức Chúa Trời, (ii) Nghị luận về văn chương và thể văn từ phú, và (iii) Phát minh Pharaday và công dụng...Ông Trương Vĩnh Kư đă thắng được giải nhứt và nhận giải thưởng 100 bảng Anh trong một buổi lễ được tổ chức rất trang trọng ở Penang. Trương Vĩnh Kư, bấy giờ đă 21 tuổi, là chủng sinh đỗ đầu của khóa học với 300 học viên khắp Á Đông và được tuyển chọn cùng với hai người khác để đi La Mă tiếp tục học làm Linh Mục. Giáo sĩ Lefèbvre lại cố thuyết phục Ông nên tiếp tục đi học ở La Mă v́ thời cuộc ở Việt Nam c̣n quá nhiều ngổn ngang, trắc trở; nếu Ông về nước vào lúc này sẽ không làm được việc ǵ thiết thực, trái lại sinh mạng có thể bị nguy hiểm. Nhưng Trương tiên sinh đă quyết định hồi hương để phục vụ đất nước và chịu tang mẹ hiền đă mất trước đó, mặc dù Ông nhận thấy đi La mă là con đường vinh quang cho tương lai. Trước khi về nước, Ông đă thu thập được rất nhiều sách quư báu do nhà trường, viên Toàn Quyền Penang, bạn bè thân tặng. Ông lại mua thêm các sách khác ở các tiệm sách. Theo tài liệu gia đ́nh, trong chuyến về Việt Nam lần này, ông mang theo đến 11 thùng sách, gồm đủ loại từ triết học đến sử kư, địa lư, khoa học, ngôn ngữ, văn học, tôn giáo... Có lúc Ông lo ngại không biết có thể đem hết số sách này về Việt Nam được không, v́ t́nh trạng chiến tranh bắt đầu và các cuộc càn quét bắt bớ, giết chóc những người giảng đạo và theo Chúa càng lúc càng quyết liệt hơn.

5. Trương Vĩnh Kư hồi hương

    Theo tài liệu của ông Nguyễn Văn Trấn (1993) và Hoàng Lại Giang (2001), năm 1858, Ông Trương Vĩnh Kư hồi hương bằng chuyến tàu Hồng Mao (Anh) đến cảng Hạ Châu, Trung Quốc. Cùng trên chuyến tàu này có thêm hai người Việt Nam, đó là Ông Phan Thanh Long, người Gia Định và Lê Huy Tốn người Ninh B́nh. Cả hai đều lớn hơn Trương Vĩnh Kư 4 tuổi. Từ cảng Hạ Châu, chiếc tàu thương măi tiếp tục hành tŕnh, hướng về phương nam để đến Việt Nam. Khi tàu vừa cặp Bến Nghé (sông Sài G̣n ngày nay), cả ba người đều im lặng lo lắng, mỗi người một suy tư. Cảng Bến Nghé im vắng không giống như Penang, dường như đang phủ một bầu không khí nặng nề. Vài chiếc đ̣ qua lại dưới sông, trên phố người qua thưa thớt; nhưng nhiều lính tráng mang súng, gươm đi tới đi lui. Lúc này là thời kỳ cấm đạo c̣n gay gắt ở mọi nơi. Ba người khách từ Mă Lai về cảm thấy không được yên tâm và lo sợ. Cho nên, Trương Vĩnh Kư yêu cầu ông thuyền trưởng tàu Hồng Mao đưa họ trở ra băi biển Cần Giờ. Đến bờ biển, họ may mắn gặp một chiếc thuyền con mà chủ nhân là một người ngoan đạo đưa họ đi ẩn núp ở khu rừng đước gần đó. Họ gọi Ông là „Chú Ba Cần Giờ“, nhà ở Chợ Quán, Sài G̣n nhưng bị đốt sạch v́ theo đạo Chúa. Vợ con Ông Ba c̣n tá túc ở đó trong khi Ông bỏ đi ra Cần Giờ lập một cḥi nhỏ thờ Chúa ở giữa rừng. Ông Ba đưa họ và hành lư cùng 11 thùng sách của Kư đến căn cḥi lá để tạm trú và t́m cách giúp họ trở về quê nha (Hoàng Lại Giang, 2001). Bấy giờ Ông Kư có cảm giác như ngày nào Cố Long đă đưa Ông chạy trốn khi lính triều đ́nh bao vây Cái Nhum... Ông thực sự lo lắng cho số phần và tương lai của ḿnh trong những ngày sắp tới. Tất cả đời sống b́nh yên ở Penang không c̣n nữa. Trước mặt chỉ là những ngày đen tối, Ông cần phải b́nh tỉnh, sáng suốt và nhiều can đảm để đối diện với thực tế xă hội Việt nam dưới thời Tự Đức. Là một người có đạo, Ông phó thác mạng sống của ḿnh cho Chúa Trời phù hộ. Ba người đồng hành đang suy nghĩ t́m cách nào để về quê hương an toàn. Sau đó, có tin rất buồn về ông Phan Thanh Long, vào một đêm, cố lẻn đi về Gia Định để t́m nhà ḿnh, nhưng anh bị giết chết và không bao giờ trở lại để thực hiện được lời hứa nếu t́m được nhà sẽ đưa hai người bạn của ḿnh về tạm trú. Thân phận con chiên quá mong manh! Sau đó ít ngày, Lê Huy Tốn đi ngơ biển để về Ninh B́nh, nhưng không biết cuộc hành tŕnh của Ông có được b́nh yên. Theo tài liệu gia đ́nh, Ông Kư được Ông Ba nhờ một người ngoại đạo đưa từ Cần Giờ qua ngă Cần Giuộc để về Long Xuyên trong khi phải giă làm người bệnh để qua mắt các điếm canh. Từ Long Xuyên Ông đi qua Sa Đéc để gặp Ông trùm Chữ, một người có đạo ḍng giúp đỡ về Cái Mơn. Chuyến đi từ Cần Giờ về Cái Mơn cũng lắm gay go, có lúc Ông suưt bị bắt, nhưng nhờ may mắn thoát hiểm. Cuối cùng Ông Trương Vĩnh Kư đă về tới quê ḿnh và gặp lại người anh Nguyễn Chánh Sử trong bao niềm vui vui tủi tủi... Ông Sử giờ là một viên quan huyện của tỉnh Vĩnh Long. Sau đó, Ông Kư đến thăm thầy đồ Học, một ân nhân của gia đ́nh Ông, năm nay gần 60 tuổi, già yếu hơn và c̣n sống với nếp sống thanh đạm, nghèo nàn. Thầy tṛ gặp lại nhau biết bao mừng vui, tâm t́nh kể bao giờ hết. Một hôm Thừa Ḥa ghé thăm. Hai người hết sức mừng rỡ. Thừa Ḥa là thầy dạy Ông Kư về tiếng La Tinh và tiếng Pháp. Họ đàm đạo rất lâu về nhiều vấn đề, trong đó có việc tái lập „nhà thờ“ ở Cái Mơn và „tu viện“ ở Cái Nhum không chính thức, v́ các tu viện và nhà thờ của hai nơi này đă bị ba lần thiêu hủy. Ông Kư đă tu sửa lại ngôi nhà và mảnh vườn của ḿnh gần con rạch nhỏ có vẻ khang trang tươi tắn hơn, đồng thời Ông đi dạy không chánh thức lớp tiếng Pháp và tiếng La Tinh do Thừa Ḥa tổ chức ở Cái Nhum. Trong thời gian này, ngoài giờ dạy học Ông bắt đầu viết lách, trước tiên Ông thu thập và viết lại các chuyện cổ tích và soạn xong giáo tŕnh „Ngữ pháp Việt Nam yếu lược“. Nh́n về tương lai, Thừa Ḥa lại khuyên Trương Vĩnh Kư đi La Mă tiếp tục học làm Linh Mục, nhưng ông quả quyết ở lại làm một chút ǵ cho quê hương đất nước. Ông bảo rằng Ông sinh ra ở đất nước này và sẽ bỏ xác thân ở nơi này. Trong những buổi dạy học không chánh thức ở tu viện, Ông dùng những phương án sư phạm riêng để giảng dạy làm sao cho học tṛ thu nhận nhiều hiệu quả. Trong các buổi học luôn xảy ra trong bầu không khí cảnh giác cao độ, không giống như những lớp học truyền thống. Hàng ngày cả Thầy và học tṛ vừa giảng và học cũng vừa để tai lắng nghe có ǵ bất thường ở ngoài đường. Hể có tiếng động ám hiệu là vội vàng thu xếp giấy mực... chạy trốn. Tín ngưỡng thiêng liêng quá! Thù nghịch không thể ngăn cấm ḷng tin của con người. Nhưng đến đêm 9-12-1858, „tu viện“ Cái Nhum và „nhà thờ“ ở Cái Mơn dù bằng vách lá lại bị đốt cháy tiêu tan. Ông Trương Vĩnh Kư hoảng hốt, cố chạy trốn khỏi Cái Mơn để được an toàn và cuối cùng đến tạm ở nhà ông Quản Phụng, thuộc hạ trước kia của Ông Trương Chánh Thi ở ven sông Hàm Luông. Nhưng rồi Ông cảm thấy nếu ở lại đây lâu có thể làm ảnh hưởng, liên lụy đến gia đ́nh người bạn của cha ḿnh. Dù Ông Quản cố giữ Trương Vĩnh Kư ở lại nơi này, Ông quyết định dấn thân vượt sông Tiền giang hướng về Sài G̣n và phó mặc số mạng của ḿnh cho Chúa. Theo tài liệu gia đ́nh, Ông lại được một ông cụ ân nhân đưa đến Cần Giờ và t́m gặp căn cḥi lá mà Ông đă dừng chân lúc trước, nhưng ông Ba Cần Giờ đă không c̣n nữa v́ ông bị giết về đạo. Con của Ông là cậu Lo vâng lời cha ḿnh ở đây giữ sách và chờ gặp Ông Kư. Sau đó, Lo dẫn Ông đi gặp ông Chín Ngơi, một người đạo gốc, biết rất rành rẽ về khu Chợ Quán. Vùng này có nhiều sông rạch chằng chịt, người thưa thớt; nhưng là nơi có nhiều người theo đạo Gia Tô. Nhiều nhà thờ bằng vách lá không chính thức được dựng lên, nhưng bị quân triều đ́nh càn quét dữ dội nhiều lần. Tính từ thời vua Minh Mạng đến lúc bấy giờ, Chợ Quán đă bị đốt nhà 6 lần. Chín Ngơi dẫn ông Kư đến một căn nhà lá lụp xụp ở Chợ Quán, ở đây Ông Kư gặp lại giáo sĩ Lefèbvre một cách bất ngờ sau nhiều ngày tháng giă từ đảo Penang (Hoàng Lại Giang, 2001). Đây là khúc quanh lớn, làm thay đổi cả cuộc đời của Ông Trương Vĩnh Kư, đặt ông vào một vị thế tấn thối lưỡng nan giữa thế lực xâm lăng và ḷng yêu nước của một người có đạo Chúa. Cha Lefèbvre một lần nữa đặt vấn đề đi La Mă với Kư, nhưng Ông lại một mực từ chối để ở lại quê hương. Kư lại trở về tạm trú ở cḥi lá Cần Giờ và có Lo t́nh nguyện ở lại giúp đở Kư cho đến sau này. Kư dạy cho Lo học chữ „Quốc Ngữ“, chỉ trong một tháng Lo biết đánh vần và đọc được chữ. Hiện nay, gia đ́nh hậu bối của ông Lo vẫn c̣n trú ngụ trong khuôn viên bên cạnh ngôi nhà làm việc của ông Trương Vĩnh Kư ở góc đường Trần Hưng Đạo và Trần B́nh Trọng, Sài G̣n. Vào năm 1859, Chín Ngơi lại bơi xuồng đến gặp Kư cho biết nơi này không c̣n được yên ổn nữa v́ đă nghe súng nổ ở miệt Vũng Tàu. Ông ta đưa Trương Vĩnh Kư vào đất liền, theo ư muốn của cha Lefèbvre. Ông Kư trú ở một gian nhà lá nằm trên bờ kênh Lớn (nay là đường Nguyễn Huệ) của một giáo dân đă bỏ nhà chạy trốn. Ông Kư xem Lo như em ruột của ḿnh nên Lo cũng bỏ căn cḥi lá để theo Ông. Sách vở được Ông Kư cất trong hầm dưới đất để khi bị đốt nhà sách c̣n có thể giữ được an toàn. Kư lại bắt đầu những công tŕnh văn học mà Ông đă dự tính trong những ngày qua. Vào đêm 15 rạng 16 tháng 2-1859, Pháp tấn công thành Gia Định. Súng đạn nổ vang trời. Thiếu niên Kư lo sợ không biết phải chạy về đâu. Cha Lefèbvre tới nhà Kư cho biết „Chúa đă sai người Phangsa tới đây giải thoát con chiên của Chúa...“. Ông Kư im lặng, cho rằng dân tộc ḿnh, đặc biệt người theo đạo Gia Tô sẽ bớt cảnh lo sợ trốn lánh từng ngày; trong khi đó đa số lương dân sẽ bắt đầu những ngày tháng lầm than v́ chiến tranh. Có lần trong cơn tuyệt vọng về chính sách bài đạo nghiệt ngă của Triều Đ́nh, chính Ông đă viết: „...V́ lúc này, chúng tôi đang như những con cừu sống giữa đàn sói đói ăn, bị những sự tủi nhục liên tiếp, bị những sự khủng bố tràn ngập trong gia đ́nh, và luỡi gươm như treo chờ sẵn trên cánh cửa. Giữa những sự sợ hăi triền miên đó, giữa những sự nguy hiểm không ngừng đó chỉ c̣n hy vọng sự giúp đỡ của Ngài mới nâng đỡ được tinh thần của chúng tôi...“ (Hoàng Lại Giang, 2001). Nhưng nay Pháp nổ súng san bằng thành Gia Định, gây máu chảy khắp nơi, dân chúng kêu than oán trách, Ông lại thấy lương tâm cắn rứt và cảm thấy ḿnh có tội. Từ đó cuộc đời của Ông luôn sống trong tâm tư dằng dặc giữa đạo và đời. Một Trương Vĩnh Kư với truyền thống thâm nho, trọng đạo nghĩa, có tinh thần ái quốc và một Trương Vĩnh Kư đă được giáo dục và thấm nhuần một đạo giáo mới - Gia Tô do người xâm lược mang tới. Tướng de Genouilly sau khi lấy được thành Gia Định phải trở ra ngay Đà Nẵng. Ông giao thành Gia Định cho Trung tá Jauréguiberry, một người theo đạo Tin Lành. Cố Croc, qua Linh mục Lefèbvre, mời ông Trương Vĩnh Kư làm thông dịch viên cho cuộc đàm luận giữa Pháp và đại diện triều đ́nh Huế, Thượng thư Bộ Hộ Tôn Thất Hiệp, ở Biên Ḥa. Ông Kư biết đây là một thời điểm rất nhạy cảm của dân tộc An Nam. Ông luôn tự hỏi có nên giúp Cố Croc về việc này không. Việc làm thông dịch viên có giúp được ǵ cho sự hiểu biết thông cảm giữa triều đ́nh Huế và Pháp hay bị mang tiếng nối giáo cho giặc? Ông trải qua tâm trạng dằn co, nỗi ḷng trăm mối, trong khi giáo sĩ Lefèbvre luôn t́m đến để thuyết phục ông làm vai tṛ thông dịch cho Trung tá Jauréguiberry và bảo đó là công việc chỉ để làm trung gian giúp Pháp ḥa giải với Triều đ́nh. Nhà văn Hoàng Lại Giang viết trong quyển sách Trương Vĩnh Kư - Bi kịch muôn đời:“Trương Vĩnh Kư vẫn c̣n bần thần (với lời thuyết phục của giáo sĩ Lefèbvre)... Nhiều năm tháng sau này, mỗi lần nhớ lại lối rẽ này của cuộc đời, Trương Vĩnh Kư vẫn c̣n y nguyên cảm giác bần thần lúc ấy. Nó bất ngờ quá đối với anh, chưa bao giờ anh xa rời cái ư nghĩ tiếp tục xây dựng, quảng bá chữ Việt của các thừa sai đi trước, để một lúc nào đó nó sẽ trở thành „Quốc ngữ“ của dân tộc anh. Từ ngày ở Penang anh đă nuôi ư nguyện dịch các bản Tứ thư, Ngũ kinh... ra thứ chữ các nhà truyền giáo. Những nhà khoa bảng tương lai sẽ học Thánh hiền qua thứ chữ này...“. Ông đă nhận vai tṛ thông dịch viên cho Trung tá Jauréguiberry. Đây là lúc Ông bắt đầu hợp tác với Pháp sau khi hồi hương. Vị sĩ quan này rất ngưỡng mộ và nể v́ Ông Kư với khả năng hoạt bác, kiến thức sâu rộng, khác hẳn với những người thông dịch b́nh thường. Ông ta biết tôn trọng và thông cảm cho cảm nghĩ của Ông Kư nên không ép buộc Ông phải làm những ǵ không thích. Trái lại, thiếu tá d'Aries thay thế ông Jauréguiberry được lệnh đi Trung Quốc, coi thường Ông Kư như những người thừa sai khác mà y đă dùng. Ông Kư chỉ muốn làm các công việc dịch thuật sách báo, tài liệu ở bàn giấy và từ chối đi làm thông ngôn cho những cuộc điều tra tầm thường. Do đó, d'Aries có ác cảm với Ông Trương Vĩnh Kư và viết báo cáo gởi đô đốc Charner: „...Với cương vị thông ngôn của Sở sự vụ bản xứ Sài G̣n, các thừa sai và thiếu tá Jauréguiberry đă quá đề cao P. Kư và v́ vậy đă kích thích tính kiêu ngạo, cái tính đă làm anh ta quên mất ḿnh là ai. Tôi không hề thấy ở anh ta một chút của sự siêng năng mẫn cán vốn được thiếu tá tiền nhiệm của tôi ca ngợi. Là người của quân đội Pháp nhưng anh ta lại làm việc không theo chỉ huy của tôi, mà theo ư thích của anh ta, một việc chưa có tiền lệ của một quân đội bách chiến bách thắng của chúng ta. Tôi buộc ḷng phải sa thải anh ta - sa thải- không có tên gọi nào đúng hơn. Tất nhiên, không bao giờ tôi lại muốn giới thiệu anh ta cho ngài, như nhiều thừa sai gợi ư, để ngài lấy thông ngôn cho các hội đồng chiến tranh của chúng ta...“. Bản phúc tŕnh này cho thấy Ông Trương Vĩnh Kư không phải là một người thông dịch tầm thường, ông có chủ kiến, có một hướng đi riêng để làm sao có thể giúp đỡ dân tộc ḿnh. Ông hành xử đúng như một thành ngữ La Mă:“ở với họ mà không theo họ“. Sau đó, Ông được điều động từ chiến hạm La Dragonne về Đồn Đất làm việc ở bàn giấy. Ngoài dịch các bản văn từ chữ Nho ra chữ Pháp, Ông c̣n phải nhận công việc chuẩn bị cho chương tŕnh thành lập một trường thông ngôn sau này.

Năm 1861, Ông Trương Vĩnh Kư thành lập gia đ́nh với Bà Vương Thị Thơ, con gái của Vương Văn Ngươn, Hương Chủ trong làng Nhơn Giang, Chợ Quán.

6. Kết luận

    Tóm lại, khi bước chân vào đời Trương tiên sinh không có đường lựa chọn, mà bắt buộc phải hợp tác với chính phủ thực dân; nhưng Ông không đi ra khỏi định hướng của ḿnh: phục vụ tổ quốc và dân tộc đang ở trong t́nh trạng chậm tiến. Ông đă từng thọ ơn của cha cố trong nuôi dưỡng và học đạo từ lúc 9 đến 21 tuổi ở trong nước và ngoại quốc. Vả lại, những người có công ơn với Ông luôn bao vây và âm thầm lèo lái cuộc đời của Ông theo chủ tâm của họ, của người Pháp. Ông không thể bội ơn của những người bảo trợ nuôi dưỡng này. Ông là người theo đạo Gia Tô, đi tu học đạo hải ngoại mà triều đ́nh Huế đang có chính sách bài đạo hung hiểm. Vậy Ông Trương Vĩnh Kư phải làm ǵ để sinh sống khi trở về nước chịu tang mẹ và ở lại? Quần chúng xung quanh có c̣n tin tưởng Ông nếu Ông đi kháng chiến chống Pháp? Chỉ có con đường hợp tác với người Pháp để làm gạch nối giữa hai thế chính trị đương thời, giúp dân tộc khai phóng văn hóa và tạo nhân tố tiến bộ cho dân tộc. Ông Vũ Kư (2005)ù trong Lời Mở Đầu của quyển Tuyển Tập Hiện Tượng Trương Vĩnh Kư đă nhấn mạnh:“... Đó là cái thế trung ḥa uyển chuyển đối phó với chế độ để c̣n được làm chút ǵ hữu ích cho tiền đồ đất nước mà không vi phạm đến bản lănh hướng thiện và hướng thượng của ḿnh. Tâm tư của người bất di bất biến nhưng hành th́ tế nhị khéo léo, bao dung được hướng đạo bởi cái tâm và không xa rời cái tâm định hướng. Tôi muốn nói đến tâm thức ái quốc dạt dào là hiện tượng thường trực luôn luôn âm ỉ trong tâm cảm của người“. Ông quả là người có can đảm lớn, tinh thần yêu nước và dân tộc cao. Trên đường dấn thân, Ông Trương Vĩnh Kư có lập trường cố định, có khuynh hướng và thái độ ôn hoà nhưng tích cực để tạo phúc lợi cho dân tộc ḿnh, ngay cả thế hệ tương lai. Bằng chứng là Ông đă để lại cho hậu thế một gia tài đồ sộ về ngôn ngữ và văn hóa, và công lao cổ vơ phổ biến chữ Quốc Ngữ. Ông là một nhà trí thức khác thường: làm việc cho Pháp nhưng không chịu lấy quốc tịch Pháp để giữ tiết tháo của một sĩ phu, càng ngày càng có tư tưởng chống thực dân và không đi làm linh mục để phụng sự đời thiết thực hơn. Cuối cùng Ông đă rời bỏ dương thế trong hoàn cảnh bi đát và ḷng ray rức, với sự luyến tiếc của rất nhiều người trong và ngoài nước. Nhà văn học Lê Thanh vào Nam viếng ngôi nhà của trương Tiên Sinh ở Chợï Quán năm 1943 đă viết „Hơn một lần, nghiêng ḿnh trên di cảo vàng úa tôi cảm thấy tâm hồn tôi săn lại, khi thấy, bằng những ḍng chữ rời rạc, tiên sinh ghi những nỗi lo phiền, buồn tủi, tôi đă cảm thấy lạnh trong tâm hồn khi đọc mấy chữ mà trên ấy tôi nhận thấy sự đau đớn nhiều hơn sức mạnh, tôi được biết rằng, v́ quá tận tụy cho nhà cho nước, cho văn chương, tư tưởng mà tiên sinh đă phải trả cái giá đắt bằng cả cái sức khỏe và sau cùng, cả cái đời tiên sinh.

“ Phụ lục: Tiểu Sử Sơ Lược +2) của ông Trương Vĩnh Kư

–  Tên họ: Petrus Jean Baptiste Trương Vĩnh Kư, tự là Sĩ Tải.

- Cha : Trương Chánh Thi, Lănh Binh.

 - Mẹ : Nguyễn Thị Châu

 – Vợ : Vương Thị Thơ

- Con : 7 trai và 2 gái.

- 6-12-1837: Sanh tại Cái Mơn, xă Vĩnh Thạnh, tổng Minh Lệ, Huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay tỉnh Bến Tre).

- 1840 : Ông Trương Chánh Thi chết ở Nam Vang, Cao Miên.

 - 1842 : Ông bắt đầu đi học chữ Nho, chữ Nôm với thầy giáo Học.

 +2) Các thông tin về tiểu sử của Ông Trương Vĩnh Kư được căn cứ trên đa số tài liệu có được. Một ít tài liệu có vài chi tiết khác biệt hơn ,chủ yếu về năm tháng như năm mồ côi cha mẹ,năm đi học ở chủng viện Pinhalu và Pulau Penang,năm mẹ mất

-------------------------------------------------------------------------------------------

- 1846 : Cố Tám nhận làm con nuôi. Cố Ḥa và Cố Long tiếp tục nuôi dưỡng cho học đạo, dạy tiếng La Tinh, tiếng Pháp và „Quốc Ngữ“.

- 1848 : Cố Long đưa Ông đi học ở chủng viện Pinhalu, Cao Miên.

- 1851 : Ông được chọn trong số 3 chủng sinh xuất sắc của khóa học với 25 chủng sinh để tiếp tục đi học ở chủng viện Giáo Hoàng Pulau Penang, Mă Lai.

- 1858 : Bà Nguyễn Thị Châu mất. Ông trở về nước chịu tang.

- 1860 : Làm thông dịch viên cho Trung tá Jauréguiberry.

- 1861 : Lập gia đ́nh. Dạy học ở trường Thông ngôn thành lập ngày 8-5-1961.

- 1863 : Tham gia đoàn thông ngôn của phái bộ Phan Thanh Giản đi Pháp để chuộc lại ba tỉnh miền Đông từ 14-7-1863 đến 18-3-1864. –

 1864-68: Giáo sư và Hiệu Trưởng trường Thông Ngôn.

- 1865-69: Trợ bút và Tổng Tài (1869-1872) của Gia Định Báo bằng chữ Quốc Ngữ.

 - 1871 : Giáo sư trường Sư Phạm và được phong chức Tri Huyện hạng nhứt.

 - 1872 : Thông ngôn cho phái bộ Y Pha Nho điều đ́nh với triều đ́nh Huế về thương mại. - 1873 : Dạy Hán Văn và Việt Văn ở trường Tham Biện Hậu Bổ, Chánh Đốc Học của trường này vào 1875.

 - 1874 : Được đề cử vào cuộc chọn lựa „Toàn Cầu Bác Học Danh Gia“ và được trúng tuyển vào danh sách 18 nhà Bác Học thế giới „Thế Giới Thập Bát Văn Hào“ +3).

 - 1878 : Đi tham quan ở Bắc Kỳ năm Ất Dậu. Hội viên của Hội Đồng Thành Phố, Hội Viên Hội Đồng Học Chánh Thuộc Địa.

 - 1883 : Được Hàn Lâm Viện Pháp phong hàm Viện Sĩ (Officier d'Academie).

- 1886 : Giao tiếp với Paul Bert, Toàn Quyền Đông Dương. Làm việc ở Cơ Mật Viện và dạy vua Đồng Khánh học chữ Pháp và chữ Quốc Ngữ.

- 1887 : Đi công tác ở Bangkok để giải quyết vấn đề giữa Thái Lan và Đông Dương. Sau đó bắt đầu nghỉ hưu.

- 1888 : Xuất bản tạp chí Thông Loại Khóa Tŕnh, 18 số (1888-1889).

- 1888-98: Viết sách, xuất bản với tiền túi của ḿnh. Bệnh hoạn luôn. Giáo sư thổ ngữ Đông Dương tại trường Hậu Bổ.

- 1-9-1898: Mất v́ bệnh trong cảnh nghèo nàn.

Chú ư: Ông được hưởng danh vị Khuê Bài Dũng Sĩ Cứu Thế“ vào tháng 10 năm 1868 và làm hội viên của nhiều hội đoàn ở Pháp như: Hội Nhân Văn Khoa Học vùng Tây Nam nước Pháp, Hội Nhân Chủng Học, Hội Giáo Dục, Hội Á Châu, Hội Địa Lư Paris (Nguyễn Vĩnh Thượng, 2002).

 Tài liệu tham khảo

1. Hoàng Lại Giang. 2001. Trương Vĩnh Kư - Bi kịch muôn đời. NXB Văn Hóa và Thông Tin, 712 trang.

2. Huy Lữ. 1998. Nhà Bác Học Trương Vĩnh Kư: Một Đoá Sen Thơm. Trong Đặc San Petrus Kư -1998, Hội ái Hữu Petrus Kư Nam Cali, trang 45-51.

3. Lê Thanh. 1943. Trương Vĩnh Kư biên khảo, trong Phổ Thông Chuyên San, Tân Dân xuất bản phát hành số 3, tháng 9-1943.

 4. Nguyễn Văn Trấn, 1993. Trương Vĩnh Kư, Con Người và Sự Thật. Tp HCM: Ban khoa học xă hội thành ủy, 210 trang.

5. Nguyễn Vĩnh Thượng, 2002. Trương Vĩnh Kư: Nhà Văn Hóa Lỗi Lạc. Trong Đặc San Petrus Kư -2002, Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Petrus Kư - Bắc California, trang 14-29.

6. Nguyễn Phan Quang và Vơ Xuân Đàn. 2000. Lịch sử Việt Nam: Từ nguồn gốc đến năm 1884. NXBTPHCM, Sài G̣n, 479 trang.

 7. Phạm Văn Sơn. 1960. Việt Sử Toàn Thư (Từ thượng cổ đến hiện đại). NXB Thư Lâm Ấn Thư Quán, Sài G̣n, 738 trang.

8. Trần Trọng Kim. 1971. Việt Nam Sử Lược. Trung Tâm Học Liệu xuất bản, Bộ Giáo Dục, Sài G̣n, Tập II, 396 trang.

9. Vũ Kư. 2005. Lời Mở Đầu của quyển sách Tuyển Tập Hiện Tượng Trương Vĩnh Kư, 620 trang.

 -------------------------------------------------------------

+3) Có người viết không đúng Ông Petrus Kư được xếp hàng thứ 17 trong danh sách 18 nhà Bác Học. Thật ra bảng danh sách này được xếp theo thứ tự a,b,c... của chữ tên đứng đầu. Do đó, danh sách Thế Giới Thập Bát Văn Hào không có hạng thứ ǵ cả.