Thân thế và sự nghiệp

Trương Vĩnh Kư ( 1837-1898)

    J.B Trương chánh Kư hay Trương Vĩnh Kư hoặc Petrus Kư sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh - Thành , tục danh là Cái Mơn, tổng Minh Lư,huyện Tân Minh,phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long ( ngày nay là Bến Tre).Theo âm lịch , Cụ sinh vào năm Minh Mạng thứ 18 tức Đinh Dậu.

Giáo sư Petrus Kư về thăm nơi sinh Ông Petrus Kư

    Là con trai của Lănh binh Trương Chánh Thi và Nguyễn thị Châu,cụ đă có một thời kỳ sống trong hoàn cảnh thật thiếu thốn.Thân phụ Cụ đi thú thành Nam Vang bị mất sau một bạo bệnh để lại cả gia đ́nh nheo nhóc.Lúc đó Cụ mới có 9 tuổi.
    Nói về thân thế và sự nghiệp Trương Vĩnh Kư ta cần phân chia ra nhiều giai đoạn như sau
                                                                      Thời kỳ hàn sỹ

    Tương đối Cụ là người đi học khá sớm.Lúc cắp sách đến trường thụ giáo một ông đồ nho trong xóm,Cụ mới có 5 tuổi.Năm 9 tuổi ,theo đ̣i đạo Khổng,Cụ đă tỏ ra hơn người.Cũng năm này Cụ phải chịu tang cha và sự kiện trên đă làm cho gia đ́nh lâm vào cảnh thiếu thốn.Vào khoảng này,nếu mở trang sử cũ,ta nhận thấy phong trào bài đạo thật mạnh mẽ.Kể từ năm Minh Mạng thứ 14 (1833) trở đi Vua hạ chỉ " Sát tả" nên tiếng khóc than của dân chúng theo đạo không sao kể xiết.Chữ " Sát tả " nói trên,tả là trái không đồng đạo, v́ đạo Thiên chúa bị coi như là tà đạo và cũng bới lư do này nên tín đồ bị giết hại một cách tàn nhẫn.
    Hồi ấy có Linh mục Long thấy Cụ thông minh và dễ thương nên đưa vào trường thầy ḍng ở Cái-nhum cho học chữ La-tinh.
    Vua Minh Mạng vẫn theo đuổi chính sách bài đạo : một số giáo sĩ như Machand,Tabert cùng các môn đệ đều bị giết hay bỏ ngục.Cũng v́ vậy nên khi mới 12 tuổi ( 1848) ,Cụ được lệnh theo cố Ḥa tức cha Belleveaux qua Nam Vang giúp thầy dạy học.Ḷng đă quyết từ lâu,dịp may tới,Cụ có ư định sẽ cố gắng theo học đến bậc Giám mục.Ở trường Pinhalu thuộc Cao Miên hay Cambodge ,Cụ gặp nhiều bạn sinh viên ngoại quốc như Lào,Xiêm,Miến điện,Trung hoa v.v....Cụ lần ṃ học được hết các sinh ngữ đó.Mới chỉ là một học sinh chừng 11,12 tuổi ,Cụ đă tỏ ra có khiếu về ngôn ngữ học.
    Năm 14 tuổi (1850), Cụ được theo cha Long đi Penang.một cù lao nhỏ ở biển Hạ Châu ( Mă Lai).Cụ đă qua một hành tŕnh quá ư vất vả.Thấm thoát trong khoảng thời gian lưu lại Penang với 6 mùa xuân qua,Cụ làm cho các bạn đồng học thán phục v́ tài học.Ở trường đạo Dulalma (Du-Lam), Cụ dùng thời giờ học về văn chương ,khoa học,triết học,các sinh ngữ như tiếng Pháp,Hy-Lạp,Anh,Ấn Độ,Nhật Bản.Trong một kỳ thi,Cụ đoạt phần thưởng giá trị và xứng đáng về môn triết học viết bằng La-tinh.
    Năm 1856,Cụ đứng theo hàng linh mục và ngoài những sinh ngữ kể trên,Cụ c̣n nói thông thạo tiếng Y-pha-nho,Tàu,Mă-Lai,La-tinh.
    Năm 1858,nghe tin mẹ mất,Cụ trở về nước lúc đó mới có 21 tuổi và sống một cuộc đời tầm thường tại Cái-mơn.

    Sau khi Minh mạng thăng hà,vua Tự Đức cũng chủ trương như các vị tiên Vương là bài đạo triệt để.Thật là một điều đáng tiếc đă để nước ta đi đến những ngày tối tăm của một khúc quanh lịch sử.
    Trước sự tàn sát giáo sĩ cùng môn đồ,nhà cầm quyền Pháp vào ngày 1 tháng 9 năm 1858 cho tiến binh chiếm giữ đồn cửa Hàn tức Đà Nẳng ngày nay.
    Qua năm sau tức 1859, tàu chiến Pháp lại tới cửa Cần giờ.Thành Gia -định thất thủ ngày 18 tháng 2 theo âm lịch hồi đó là năm Tự-Đức thứ 12.Cũng v́ được hấp thụ một nền học vấn Âu-Tây hơn nữa thấm nhuần tư tưởng nhân từ của đạo Gia tô.Cụ giữ một thái độ đặc biệt không đi quá trớn.Sau khi được Đô-đốc Bonard mời ra giúp việc,Cụ đă chấp thuận với ư định tạo nên bầu không khí giao hảo giữa Pháp và Việt Nam.Cũng v́ nghỉ như vậy nên lúc làm thông ngôn  (20-12-1860),lúc làm Đốc học trường thông ngôn Saigon,Cụ vẫn chủ trương giúp cả hai nước mà chẳng nhị tâm.

        Vai tṛ của Trương Vĩnh Kư giữa tân trào

    Vào năm 1860.viên đại úy Pháp Jauréguiberry có nhiệm vụ lo liệu việc tấn công Saigon.Trong công cuộc này tất nhiên vị vơ quan cần có một người giúp việc thông thạo tiếng Pháp và hiểu rơ phong tục tập quán dân bản xứ để tránh những lầm lỗi đáng tiếc về chính trị.Trong khi Bonard đang thắc mắc như vậy th́ linh mục Croc là người đă giúp việc cho Đô-đốc Rigault de Genouilly,nhưng vị vơ  quan khó tính này thấy cần phải có một người xuất sắc hơn vị linh mục Pháp.Hơn nữa nếu người thông ngôn phạm lỗi ǵ khi phiên dịch sẽ có thể đi đến kết quả tai hại.Trong khi Bonard đang thắc mắc như vậy th́ linh mục Lefèbvre lúc đó trông coi địa phận Nam Kỳ đă kiếm được một người đáng tin cẩn : Trương Vĩnh Kư.Lúc này nhà học giả sau một chuyến viễn du trở về cũng đang phân vân trong sự lựa chọn nghề nghiệp.Với ḷng thương xót đồng bào nhất là được rơ nổi thống khổ của dân trong khi đồn Chí-ḥa bị Charner hạ lệnh cho quân sĩ công phá bắn nát, hai tỉnh Mỹ-Tho,Biên Ḥa lọt vào tay quân đội Pháp.Cụ quyết định thi hành chương tŕnh của ḿnh là làm dịu vết thương do chiến tranh gây nên bằng cách đứng ra làm gạch nối cho sự giao hảo Pháp-Việt,giúp đở hai bên để hiểu rơ nhau.Nghề mà Cụ nhất định chọn là làm thông ngôn với số bạc chừng gần 20$ một tháng.Quả như Cụ nghĩ,vai tuồng Cụ đóng thật là khó v́ có thể bị cả hai bên nghi ngờ,sự nguy hiểm rất khó tránh.
    Trong giai đoạn khó khăn,nhờ có nhiều đức tính nên không những Cụ giữ được thể diện cho nước nhà mà đối với người cùng cộng tác,Cụ lại không để họ khinh thường nổi.Một trường hợp khó giải quyết như theo thuyền trưởng chiếc Forbin ra cửa Hàn năm 1862 bắt buộc triều đ́nh Huế lo việc thương thuyết cùng trả 100.000 quan tiền.Cụ khôn khéo dấu được nỗi đau thương riêng trong ḷng,đối với nước nhà không hổ là người theo voi ăn bă mía.Trọng trách của Cụ là cố gây t́nh giao hảo giữa hai nước chứ không như một số người v́ bả vinh hoa mà theo Soái phủ.

            Trương Vĩnh Kư với sứ bộ Việt Nam qua Pháp.

    Năm 1863,Cụ được cử theo sứ bộ Phan Thanh Giản qua Pháp để gặp Nă-Phá-Luân đệ tam.Do Đại Nam sứ thần chánh sứ Phan Thanh Giản hướng dẫn,sứ bộ gồm có một số nhân sĩ tên tuổi như Phó sứ Phạm Phú Thứ,bồi sứ Nguy Khắc Đản v.v....
    Rời đất Việt Nam ngày 7 tháng 7 năm 1863,sau 2 tháng 7 ngày lênh đênh trên mặt biển,sứ bộ ta mới tới Marseille.Qua những mẫu chuyện thuật lại ,người Pháp lúc đó cũng tưởng người Việt Nam rợ chẳng khác chi các bộ lạc Phi Châu nhưng dè đâu khi cả sứ bộ đặt chân lên đất Pháp ,họ ngạc nhiên vô cùng v́ thấy có người Việt Nam nói tiếng Pháp chẳng kém ǵ họ.Đó là Trương Vĩnh Kư.
    Trước vẻ lộng lẫy của điện Tuileries,với các Ông hoàng,Bà chúa y phục rực rỡ,Trương Vĩnh Kư đă dịch thuật rành mạch bài diễn văn của Phan Thanh Giản khiến mọi người phải khâm phục không những về tài năng mà c̣n về cử chỉ,dáng điệu đỉnh đạc.
    Nhân dịp được qua Pháp .Cụ không bỏ lỡ cơ hội thăm viếng nhiều nước lân cận như Bồ Đào Nha,Y Pha Nho ( Espagne),Ư Đại lợi (Italie).Qua La Mă,Cụ đă được yết kiến Đức Giáo hoàng.
    Thăm viếng ngoại quốc  đối với Cụ c̣n rất bổ ích về kiến thức v́ Cụ được dịp t́m hiểu nền văn hóa của những nước lân cận với Pháp ngoài sách vở.
    Sứ bộ Việt Nam trong khi viếng quốc vương Y-Pha-Nho ở điện Escurial có nhờ Cụ làm thông ngôn.Cụ đă làm cho nước này phải khâm phục về sự nói trôi chảy thứ tiếng của họ.Năm 1864 Trương Vĩnh Kư hộ tùng sứ bộ về nước.
    Cũng nhờ biết đến tài của Cụ mà năm 1870 phái bộ Y-Pha-Nho qua Việt Nam đă yêu cầu triều đ́nh ta cho được phép dùng Cụ làm thông ngôn trong sự kư kết thương ước.Theo phái bộ Tây Ban Nha tới lần thứ hai này ,Trương Vĩnh Kư đă gặp vua Đồng Khánh tỏ bài việc nước khiến nhà vua mến chuộng tài đức.

                Cộng tác với người Pháp

    Trong khoảng thời gian 2 năm từ 1866-1868,Trương Vĩnh Kư được đề cử làm Giám Đốc dạy tiếng Đông phương ở trường Thông ngôn hồi đó kêu là Collège des interprètes.Cụ tỏ ra rất có tài.Cũng trong khoảng thời gian này ,Cụ c̣n làm báo v́ vậy tờ " Gia Định báo" mới được ra đời.Tờ báo trên được liệt vào hàng đầu những báo ở nước ta viết bằng Việt ngữ.
    Nhận thấy tài năng của Cụ rất xứng đáng với công việc giao phó,chính phủ Pháp ban cho Cụ chức tri huyện,rồi giám Đốc trường sư phạm dưới tên là Ecole Normale.Cụ ở chức quan lại từ ngày 1-1-1872.
    Vào tháng 6 năm này (1-6-1872),Cụ c̣n được mời ra làm thư kư hội đồng thành phố Chợlớn.
    Con đường công danh của Cụ mỗi ngày thêm rực rỡ.Qua năm 1874 ,Cụ được bổ làm giáo sư tiếng Việt và Hán tự tại trường Tham biện Hậu bổ hay Ecole des administrateurs stagiaires (1-1-1874)
    Tuy nhiên người Pháp cũng vẫn nghi ngờ Cụ ,vào năm 1879 v́ thấy Cụ có nhiều ư kiến mới như mở mang dân trí.Với đám học sinh  Việt Nam theo tân trào ,Cụ c̣n soạn một số lớn sách vở cho họ.
    Chán chường v́ nhận thấy thói đời đen bạc,Cụ chuyển hẳn về nghề viết sách.Vào năm 1886,cụ được vời ra một lần nữa giúp Toàn quyền Paul bert sau đó lại xung vào Cơ mật viện làm Giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh.

                Giúp việc triều đ́nh

    Nền tảng cai trị của người Pháp càng vững chắc bao nhiêu,sự có mặt của Paul bert tại Việt Nam lại khiến kẻ thức thời  hiểu thêm thời thế.Cũng v́ lư do trên mà vai tṛ của Trương Vĩnh Kư trở nên quan trọng hơn nữa.Là một người am hiểu ngành hành chánh,Toàn quyền Paul Bert muốn giúp vua Đồng Khánh trấn tĩnh ḷng dân và trong việc này cũng cần có một nhân tài giúp sức và người đó cũng không ngoài Trương Vĩnh Kư.Sự xung vào cơ mật viện của Trương Vĩnh Kư khiến cho một số người nghi kỵ Cụ,mặc dầu ḷng Cụ thật ngay thẳng không hề xu nịnh.Môt chi tiết được tiết lộ về sau là qua một số văn thư giữa Trương Vĩnh Kư và Paul bert,viên Toàn quyền Pháp cũng chỉ có ư định dùng Cụ một thời gian mà thôi khi biết Cụ không phải là người quên gốc tích của ḿnh.Dùng Trương Vĩnh Kư,Paul Bert chỉ có mục đích duy nhất là làm gạch nối giữa hai bên Pháp-Việt và luôn thể nhận xét các điều ǵ có thể bất lợi cho đôi bên.Tuy vậy Trương Vĩnh Kư vẫn không khỏi bị viên Toàn quyền Pháp e dè ,nhất là khoảng tháng 7-9-1886,thấy Trương Vĩnh Kư về Saigon thăm gia đ́nh,sợ có tiết lộ điều ǵ chăng,Paul Bert lật đật triệu Cụ về kinh.
    Lúc bấy giớ phong trào Cần Vưong nổi dậy tứ tung.Triều đ́nh lúc này cũng c̣n lúng túng lo việc đối phó với ḥa ước cần kư kết cùng nứoc Pháp mà Paul bert là đại diện.Thông cảm sự khó khăn của ḿnh trong trách vụ kể trên,Trương Vĩnh Kư đă khéo léo dung ḥa quyền lợi của hai bên.Cụ cũng không quên tŕnh bày những bất lợi về phần nhà vua phải chịu cho Paul Bert nghe.Công việc c̣n phải tiến hành dở dang th́ Paul Bert tạ thế vào ngày 11-11-1887.
    Xét đến cá nhân của Trương Vĩnh Kư,ta thấy Cụ có những điểm thật đặc biệt,thí dụ như không bao giờ chịu vận âu phục như một số người xu nịnh tân trào.Có người hỏi  tại sao Cụ không vào Pháp tịch,Cụ chẳng ngần ngại trả lời : " Nếu ḿnh vào bộ dân Lang Sa thời mất bộ dân Annam c̣n ǵ?" Câu nói này tỏ rơ sự không quên gốc của Cụ.

                    Thời kỳ ẩn dật của Trương Vĩnh Kư

    Sau khi Paul bert tạ thế,bên Nam triều có một số người không ưa,hơn nữa cả phía người Pháp cũng nghi kỵ thiện chí của Cụ.Trương Vĩnh Kư bỏ hẳn không tham dự chính trị và trở về viết sách,vui thú văn chương trong ngững ngày nhàn rỗi.Vua Đồng Khánh rất tiếc khi thấy Cụ xin nghỉ và ḷng ưu ái đối với một bề tôi hiền c̣n được tỏ rơ trong bài tự văn và bài thơ trường thiên sao lục dưới đây:
            Nguyên bản bài tự văn và thơ trường thiên của vua Đồng Khánh.
    Sắc cho Nam Trung ẫn sĩ Trương Vĩnh Kư,nguyên chức " Cơ mật viện tham tá " hiện sung chức " Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ " nay cố thỉnh hồi hưu.Vậy đặc ban cho các hạn bửu vật tiễn về,nhơn bài thành thơ trường luật để ghi ḷng tưởng nhớ về sau.

                        Lời tự :

    Sĩ quân tử làm cho đời quư trọng,chẳng chi lớn bằng cang thường.Người đời xưa đọc sách trong chốn ruộng nương ,tưởng như vui đó suốt đời.Một ngày kia nhức ḿnh đứng dậy là để đạt hành cái nghĩa vua tôi vậy.
    Trương Sĩ Tải người trong cơi Nam,sanh ra sẵn có tánh chất thông minh,học rộng nghe xa,các nươc Âu Á gót du hầu khắp;chữ,tiếng,vật đâu đó đều hay mà chưa hề nhận một chức ǵ để trái ĺa nước cha mẹ.Về th́ ở ẩn dạy học,chẳng chịu lụy với đời.
    Mới đây nghe kinh thành có việc,liền cởi gió rẽ sóng tới đây,v́ nước quên nhà,v́ công quên tư,giảng điều tín mục,đem ḷng thành cảm động đặng người.Đang khi vận nước nhiều nan,mà v́ Trẫm giúp vực ,châu toàn đâu đó,chỉ trong sáu tháng,mọi sự lần rồi,thiệt là hạng người bực nhứt vậy.
    Ôi đất Nam từ lâu tuy thuộc nước nhà,song văn hóa quốc trào,ít phần kịp tới,mà Trương quân có tài hơn người như vậy,há chẳng phải khí thiên non nước đúc nên,giáo trạch tiên trào để lại,mà đặng vậy sao?Trẫm mầng đặng Trương quân mà ḷng cảm kính.
    Trước kia từng bạt thọ chức " Hàn lâm viện thị giảng học sĩ ",hằng ngày chầu chực chốn ngự diên,giảng bàn tự thoại điển cổ các nước.Trẫm toan những vui đó,chẳng biết chán mỏi;c̣n mong mở hết mưu lược để giúp vực Trẫm cho trọn buổi gian nan này.Nào dè câu chuyện vui chưa được bao ngày,đă vội xin về.Trẫm nay tấc nghỉ chân thành không bao giờ đă.
    Nay đặc ban cho những bảo vật sau đây :
    1/ Một cây lương ngọc như ư 
2/ Chục lượng Nam kim
   3/ Một cây tê giác
    4/ Ba cây gấm Tàu
    5/ Tám tấm sa Tàu
    6/ Hai khẩu súng c̣
    7/ Một chiếc hộp sa cừ
      Và một bức chơn dung của quả nhơn,cùng một mặt ngọc khánh trong khắc bốn chữ " Hiếu-Để-Trung-tín" là vật của đức Hoàng khoả ấn tứ Trẫm từ lúc mới sanh,để lưu làm đồ thế bửu.Nay đem tặng cho Trương quân,đặng xứng đáng tấm ḷng yêu chuộng người hiền từ lâu của Trẫm.
    V́ đó dọn nên một bài thơ trường luật để ngụ tấm t́nh,Ngươi cùng con ngươi đều nên để ḷng thể tất lời đó.Cô nhơn có câu :" Trước sau trọn hết nghĩa vua tôi,Nội ngoại chớ quên t́nh ưu ái"Trẫm cũng đem ḷnh kỳ vọng cho ngươi,ngơ hầu chẳn lăng t́nh xưa nghĩa cũ.Một lời lănh ư,xin măi ghi ḷng,Trẫm cũng đặng hưởng cái phước háo " Đăi hiền" vậy.
                    ( Thơ làm theo thể " song thất lục bát như sau) :
     Ngoài dặm biển sóng cồn đang rội;
    Trong kinh kỳ lửa khói vừa tan.
    Thương ôi cảnh ngộ gian nan,
    Nỗi ḷng uất ức biết bàn cùng ai.
    Gặp vận rủi,trông tài mưu lược,
    Cậy tay già vực bước đên nguy.
    Non sông đúc khí linh kỳ,
    Cây ăn mầu đất từ khi đượm nhuần.
    Đồng Nai nọ là phần đất cũ,
    G̣ Mai kia ấy chủ nhà tiên.
    Từ lâu nghe tiếng anh hiền,
    Một ngày phút thấy,phỉ nguồn ước thay!
    Tài thông đạt,đời nay khó được.
    Chí học hành người trước ở chung.
    Thổ âm uốn lưỡi dịch thông,
    Dấu chân trải khắp Tây Đông các miền.
    Chống bột sắt,màn liên về đóng;
    Mở ḷng son,thềm ngọc tới chầu.
    Chi hiềm nay mới thấy nhau,
    Xin bày ḷng buổi ban đầu mười phân
    Miền đất nước tấm ân mong trả;
    Mùi đỉnh chung,tấc dạ nghĩ chi.
    Họ Trương,chăng cũng Trương Nghi.
    Kinh sơn,hải định qui vi phú cường;
    Trương Khiên với Trương Lương từ thủơ,
    Cỡi bề cung mượn đũa đưa hay.
    Người tài nước Sở về tay,
    Cơ đồ nước Tấn chỉ ngày phục hưng.
    Làng tài đức ai chừng tri kỷ,
    Áng thinh danh riêng quư một đời.
    Nhành Nam,chim Việt về nơi,
    Cá xuôi gặp hội,nước khơi vẫy vùng.
    Mà sao chẳng gắng công cho trọn?
    Luống để ai riêng món bất b́nh!
    Gập nhau nào phải th́nh ĺnh,
    Phút đầu đă vội dứt t́nh ĺa nhau!
    Làn sóng bạc biển sâu vừa lặng,
    Trận gió vàng đất phẳng thổi luôn,
    Người sao phơi phới cánh chuồn,
    Nâng trao nay náy dạ buồn cho ta.
    Đường đất dẫu cách xa dậm nghẻo,
    Tâm thần nên gần nẻo sân rồng.
    Tiễn đưa một chén rượu nồng,
    Đường chia đôi ngả,tác ḷng ngổn ngang!
    Dấu ghi tạc,giọng vàng khan giọng;
    T́nh biệt ly,lời ngọc nghẹn lời!
    C̣n mong trung tín chẳng dời,
    Tiếng khen để măi trên đời dài lâu.

        Sắc Ngự tiền Thị giảng trí sư chi Nam trung Ẩn sĩ Trương thương nhơn Đồng Khánh nhị niên,lục nguyệt sơ nhứt nhựt.Ngự bút đặc tứ.

        Trong óc nhà học giả Trương Vĩnh Kư phải chăng đă có sự chán chường cơi đời bỉ ổi đầy rẩy người chẳng hiểu tấm ḷng của ḿnh.Cụ cũng không dạy học nữa và vùi đầu vào những chồng sách cao ngất để suy luận và viết.Nghỉ cho t́nh đời đen bạc,Cụ đă có một thái độ ẩn dật.Sống cuộc đời hoàn toàn thuộc nội tâm ,một ḿnh thở than lúc văn canh.Cụ vui với sách vở Đông kim cổ.
        Lúc này Cụ tỏ là một học giả có tài.Chủ trương " cái ǵ cũng học" và " cái ǵ cũng có ích cho ḿnh cả".Lối làm việc nghiên cứu trước của Cụ đều rất có phương pháp,hơn nữa nhờ những năm pnụ trách công việc giám đốc trường thông ngôn và làm giáo sư sinh ngữ tại trường Hậu bổ,do đó các bài Cụ soạn ra bằng Việt ngữ hay Hán tự đều được in thành sách
        Sách vở Cụ soạn ra thật nhiều và ta có thể kể như sau :

    1/ 6 cuốn sách dùng dạy người Pháp : Abrégé de grammaire annamite,Cours pratique de langue                  annamite,Phraséologies,thèmes,versions,Cours de langue mandarine ou caractères chinois,Exercices de pratiques du cours de langue mandarine , Grammaire de langue annamite
    2/ 8 cuốn sách dùng để dạy người Việt Nam : Chuyện tiếng Annam và tiếng Phăng sa, Guide de la conversation annamite , Phép lịch sự Annam , Thầy tṛ về mẹo luật lắc léo tiếng Phăng sa , Cours d'Annamite aux élèves annamites : explications du Luc Vân Tiên : Prosodie et versification annamite , Hát lư ḥ Annam , Mẹo tiến Annam , Mẹo chữ nho.

        Ngoài ra,trước sự thiếu sót sách giáo khoa dùng đễ dạy ờ các trường do người Pháp lập ra,Trương Vĩnh Kư đă  viết những cuốn như sau : Manuel des écoles primaires ou simples notions sur les sciences à l'usage des jeunes élèves des écoles de l'administration de la Basse Cochinchine , Syllabaire Quốc Ngữ.histoire annamite,histoire chinoise , Petit cours de Géographie , Cours d'histoire annamite , Cours de géographie de l'indochine avec cartes générales et particuḱeres en 6 parties : Cochinchine,Annam central,Tonkin,Cambodge,Laos,Birmanie , Petit dictionnare Francais- annamite , Précis de Géographie , Ước lượng chuyện tích nước Annam

        Công cuộc duy tŕ Hán học của Trương Vĩnh Kư

        Theo chương tŕnh soạn sách của Cụ,Trương Vĩnh Kư đă nghỉ đến chuyện dịch sách Hán học ra chữ Quốc ngữ để duy tŕ nền Đạo lư và giữ ǵn những điều ǵ thuộc thuần phong mỹ tục Việt Nam.Cụ cũng không quên trong sự thực hiện ư định này đem một số sách Pháp để khai trí cho người dân Việt Nam đang bo bo thủ cựu không chịu nh́n xa trông rộng.Công việc Cụ làm đă để lại cho tủ sách nước nhà những tác phẩm vô cùng giá trị.Sách chữ Hán dịch ra quốc âm cùng thi văn chữ Nôm chép ra Quốc ngữ của Cụ cũng rất nhiều.
       Bộ Tứ Thư Cụ dịch trọn nhưng mới in được có cuốn Trung dung và Đại học.Tập Mạnh Tử cũng chỉ mới in được có tới chương 5 c̣n chỉ là dự thảo mà thôi.
        Trong loại sách duy tŕ Hán học,trương Vĩnh Kư đă soạn được : Sơ học vấn tâm , Huấn mông khúc ca , Tam tự kinh , Tam thiên tự giải âm tự học toát yếu , Minh tâm bửu giám ( 2 cuốn).

        Công tŕnh sưu tập  và phổ thông chữ Nôm

        Nếu nói về công tŕnh của Trương Vĩnh Kư,về sự sưu tầm và phổ thông chữ Nôm ,ta phải kể đến những tác phẩm sau đây được xuất bản (22 cuốn) : Kim Vân Kiều của Nguyễn Du, Trương Lương tùng Xích ṭng tử du phú , Kiếp phong trần , Huấn nữ ca của Đặng huỳnh Trung , Thơ dạy làm dâu , Gia định phong cảnh vịnh , Gia định thất thủ vịnh , Kim gia định phong cảnh vịnh , Trương lưu hầu phú , Thơ mẹ dạy con , Nữ tắc , Gia huấn ca của Trần hi Tăng , Học tṛ khó phú , Hàn nho phong vi phú , Thạnh suy bỉ thời phú , Bài hịch con quạ , Ngư tiều trướng điệu , Phú bần truyện , Mắc bệnh cúm từ , Lục súc tranh công , Lục Vân tiên , Phan Trần truyện.
        Những sách do Cụ viết ra thuộc loại kể trên c̣n có  ( 5 cuốn) : Chuyện đời xưa , Chuyện đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi , Bất cượng , Chuyện khôi hài , Cờ bạc nha phiến .

        Nói về công nghiệp của Trương Vĩnh Kư với chữ Quốc Ngữ,ta c̣n phải kể đến tập nguyệt san " Thông loại khóa tŕnh " hay Miscellanées ou lectures instructives pour les élèves des écoles primaires communales et cantonales v́ Cụ là người thứ nhứt đă đem dùng điệu chữ latinh phổ cập quốc âm hay Quốc ngữ để cho chúng ta một nền văn chương thịnh vượng như ngày nay.

                Nhà Bác học Trương Vĩnh Kư

        Trong nghề làm báo ở Nam Kỳ,Trương Vĩnh Kư c̣n chủ trương ngững tờ báo cổ nhất của nước nhà như tờ Gia định công báo (1968) và Annam politique et social.Nếu ta nói Trương Vĩnh Kư là người sáng lập báo chí ở Nam Kỳ kể cũng không phải là ngoa vậy.Các bài nhà Bác học họ Trương viết rất có giá trị về phương diện khoả cứu đại khái như: Etude comparée sur les langues ,ecritures,croyances et religions des peuples de l'Indochine , Combinaison des systèmes d'écriture ideographique,híeroglyphe,phonétique,alphabétique , Etude comparée des langues et des écritures des trois branches linguistiques.

        Qua những bài khảo cứu công phu như vậy mà ngày nay hăy c̣n thiếu sót,ta có thể nhận Trương Vĩnh Kư là một nhà bác học và khiếu của Cụ không ngoài triết học và ngôn ngữ.Theo một tài liệu khaỏ cứu về Trương Vĩnh Kư,Cụ c̣n nói được 15 sinh ngữ hoặc cổ ngữ Tây Phương,11 sinh ngữ thuộc Viễn Á ( Extrême-Asie) như tiếng Tây tạng,phạn,Cao miên,ailao,Quảng Đông,quan thoại v.v...
        Viết được loạt bài như trên ,nhà bác học họ Trương c̣n cần khảo cứu các nền văn hóa khác nữa và danh từ bác học ta dùng gán cho Trương Vĩnh Kư thật không sai sự thực.
        Phê b́nh công cuộc Trương Vĩnh Kư đă làm,nhà học giả Bouchot phải công nhận những bài như : Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales,Trương Vĩnh Kư đă ở trên một b́nh diện khá cao.
        Cũng cùng là đồng chí các vị thuộc Hàn lân viện Pháp như Littré, Duruy,Renan,Victor Hugo v.v...Trương Vĩnh Kư đă làm cho nước Pháp biết tới tài của ḿnh.Sự được ban tặng Hàn lâm viện nhất đẳng bội tinh của Pháp quốc khiến Cụ được liệt vào hạng những nhà bác học danh tiếng trên hoàn cầu.Trong cuốn Le biographe xuất bản năm 1873-1874 có ghi rơ với 18 bác học kể sau đây,Trương Vĩnh Kư xếp thứ 17 :

    1. Allemand (bac sĩ)        2. Bonadona d'Ambrun        3. Bonhomme ( Honoré)        4. Cazot (Jules)        5. Chambron (Đại tướng)

    6. Chambord (Bá tước)    7. Christophe (albert)           8. Conte (Casimir)                9. Desmaze ( Charles)    10. Duprat ( Pascal)

    11. Dupuy (Charles)        12. Garnier Pages                13. Guizot                            14. Lafazette (Oscar de)   

    15. Lefèvre -Pontalie ( Amedée)        16. Marcou        17. Petrus Kư        18. Saldonha (thống chế)

        Chủ trương công việc nghiên cứu t́m ṭi,nhà bác học Trương Vĩnh Kỳ đă viết xong những tác phẩm sau đây : (6 cuốn) : Flore annamite ( Thảo mộc VN) , Dictionnaire francais annamite ( 1878), Grand dictionnaire francais annamite (1894) , Dictionnare biographique annamite, Dictionnaire geographique annamite ,Dictionnaire chinois francais annamite

        Những cuốn sách kể trên đều thuộc loại phổ thông,tới ngày nay cũng c̣n giá trị khiến ta thấy rơ nhà bác học Trương Vĩnh Kư đă nh́n xa trông rộng.
        Cũng v́ tài cao nên Trương Vĩnh Kư nổi danh rất sớm.
        Năm 26 tuổi ,theo sứ bộ Phan thanh Giản sang Pháp ( 1863) ,cụ đă được cử làm hội viên của hội chuyên khảo về nhân loại và hội sinh ngữ Đông Phương.Biết tiếng Cụ là học giả hữu hạn của Vịêt Nam,triều đ́nh Y Pha Nho đă tặng khêu bài Isabelli la Catholique,một huy chương quư của nườc này vào ngày 27 tháng 6 năm 1868.
        Ngày 01 tháng 10 năm 1863,Cụ lại được tặng thưởng khuê bài Dơng sĩ cứu thế.Qua năm 1876,Cụ được cử làm hội viên của hội chuyên khảo văn hóa Á Châu (15-2-1876) .Hai năm sau tức 1878,Cụ được mời làm hội viên của hội chuyên học địa dư tại Ba-Lê ( 7-7-1878)
        Ngày 17-5-1883,Hàn Lâm viện Pháp tặng Cụ khuê bài Hàn lâm viện đệ nhị đăng bội tinh (Palmes d'Académie)
        Ba năm sau ,Nam triều lại ân tứ Cụ Tứ đẳng long tinh,ngọc khánh,kim khánh ( 17-5-1886)
        Cũng trong năm này , nước Pháp tặng Cụ Ngũ đẳng bắc đẩu bội tinh vào ngày 4-8-1886
        Tuy ở trên bậc thang danh vọng tuyệt vời như vậy,nhưng Trương Vĩnh Kư vẫn ôm ấp một bầu tâm sự,một ḿnh ḿnh biết,một ḿnh ḿnh hay.

                            Tâm sự Trương Vĩnh Kư

        Trong vai tṛ lịch sử mà Trương Vĩnh Kư phải đảm nhiệm,có người hiểu nhầm,có người nghi kỵ,đều đó làm cho nhà bác học họ Trương không khỏi mang một bầu tâm sự không biết tỏ cùng ai.Cụ đă dùng cách viết mà giải bày ư nghỉ ḿnh trong bài di huấn gửi cho con cháu ngày 8-11-1870
        " Người đời sanh kư tử qui,đàng đi nước bước vắn vỏi lắm.Nhưng ai cũng có phận nấy,hễ nhập thế cuộc bất khả vô danh vị,cũng phải làm vai tuồng ḿnh cho xong đă mới chung vô pḥng được.Sự sống ỏ đời tạm này,đỏ như hoa nở một hồi sương sa,vạn sự đều chóng qua chóng hết,tan đi như mây như khói?Nên phải liệu sức tùy tài tùy phận mà làm vai tuồng ḿnh cho xong..."
        Hành vi sáng tỏ của Cụ đă được phô bày một cách rơ ràng.Với một học giả uyên thâm như Cụ,đời không khác chi như bóng câu qua cửa sổ,danh vọng nào có nghĩa lư ǵ,ngoài ṿng cương tỏa chẳng ai phiền lụy,cả một đời an nhàn học tập trả nợ sách đèn.Cụ đă sống thật có nghĩa sau khi qua một thời kỳ hoạt động cho xứ sở mà vẫn chịu những lời thị phi.
        Triết lư cuộc sống của Trương Vĩnh Kư thật giản dị,ta hăy đọc đoạn văn sau đây do Cụ viết:
    " Người ta lúc nào gặp sự buồn,thời nên vui dần,sẽ có sự vui theo sau;lúc nào gặp sự vui,thời nên buồn dần,dầu ngày khác có sự buồn sẽ tới,không đến hại."
        Rơ ràng hơn nữa là bài thơ tuyệt mệnh của Cụ làm khi lâm chung.Cụ đă kư thác vào lời thơ tâm sự của ḿnh,của cả một đời dâng cho Tổ quôc về phương diện trước tác và dịch thuật làm cho nền văn hóc Việt Nam nhờ đó mà tiến đến mức tươi sáng như ngày nay :

                        Bài thơ tuyệt mệnh

        Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai,
        Xô đẩy người vô giữa cuộc đời.
        Học thức gởi tên con sách nát,
        Công danh rốt cuộc cái quan tài.
        Dạo ḥn,lũ kiến men chân bước,
        Ḅ xối,con sùng chắt lưỡi hoài!
        Cuốn sổ b́nh sanh công với tội,
        T́m nởi thẩm phán để thừa khai.

                Trương Vĩnh Kư mất ngày 01-9-1898 tức năm Thành Thái thứ 9 ,an táng tại Chơ quàn, để lại một sự nghiệp văn chương  vĩ đại và ḷng thương tiếc của những người đă hiểu lầm Cụ.Trong tâm khảm mọi người,ai cũng không quên một Trương Vĩnh Kư bác học và hiền sĩ.


            Sau khi Trương Vĩnh Kư tạ thế,để tỏ ḷng thương tiếc một tôi hiền,Vua Khải Định truy tặng Cụ hàm Lễ Bộ tham tri mà bài sắc văn như sau :

                    Bản dịch bài sắc văn của Vua Khải Định

        Thừa thiên hưng vận hoàng đế giáng lời chế rằng :
                                Trẫm nghĩ :
        Phận dưới trông lên,ḷng v́ nước vẹn tṛn trung thủy;
        Lượng trên xét xuống,ơn tưới mưa thấm khắp âm dương.
                            Dịp tốt vừa may,
                            Chiếu thơm ban tới.
                    Đoái nhớ lại :
        Nam Trung ẩn sĩ xưa,nguyên chức Hàn lâm Viện Thị giảng Học sĩ Trương Vĩnh Kư .
                    Nam kỳ giống tốt,
                    Tây học tào cao.
        Ngán thói đời,như muốn điếc,muốn câm;
        Vâng mạng nước ,vậy phải nghe,phải nói.
        Có công mài sắt,học tinh ba là gă Nam-Phương.
        Gặp buổi trao vàng,tài từ mạng ấy chàng Đông lư.
        Nghĩ tới nếp trâm hài trào trước,,sức tán thành nên hội áo xiêm;
        Huống chi nêu bờ bến người xưa,công trước thuật truyền văn le tăo.
        Người kia đâu tá,khuất nẻo ngàn trùng mây nước,những bâng khuâng lá lác bông lau;
        Nét cũ c̣n đây,trải thâu mấy độ tuyết sương,vẫn trơ tráo cây tùng cỗi bá
                    Xẩy đương tiệc cả,
                    Nhơn tưới ơn xâu.
        Nay chuẩn gia tặng hàm " Trung phụng Đại phu,Lễ bộ Tham tri" ,truy tứ thụy hiệu " Trang Khải ".Vậy ban lời cáo mạng.
                            Than ôi!
                    Hồn thiêng có biết?
                    Ḷng kính dài ghi.
        Để vẻ vang măi dưới suối vàng,vinh một chữ cũng đội hoa mặc gấm;
        Nên báo đáp lại trên bệ ngọc,kiếp ba sanh c̣n kết cỏ ngậm vành.
                                                Kính thay.
                    Khải Định cửu niên bát nguyệ sơ nhứt nhựt

       ( sưu tầm  bài "thân thế và sự nghiêp Trưong Vĩnh Kư của Nguyễn Cao Kim" trong Văn Hóa Nguyệt San số 33 năm 1958)