Nhân Lực và Trí Tuệ Việt Nam Hải Ngoại

 

                                                            TS.Trần Văn Đạt 

 

Nhân lực là yếu tố tối quan trong trong bất cứ công cuộc phát triển nào của đất nước. Một lần nữa xin nhắc lại nguyên tắc làm việc 5 M lâu đời của người Mỹ: manpower, money, management, monitoring and maintenance; tức là nguồn nhân lực, vốn liếng, quản trị, theo dơi-đánh giá và bảo quản, theo thứ tự ưu tiên, cần phải có để thành công trong mọi hoạt động ngành nghề. Chỉ cần nh́n vào chất lượng của 5 yếu tố này, người ta có thể đánh giá tương đối chính xác t́nh trạng tiến bộ của một dự án, chương tŕnh hay cơ quan quản lư của một nước. V́ thế, yếu tố nhân lực có ưu tiên hàng đầu trong các tổ chức, hoạt động và phát triển. Chất lượng của nhân sự cấp cao là thành phần trí tuệ, một động lực thiết yếu cho sáng tạo và tiến bộ, đặc biệt trong thời kỳ hiện đại hóa đất nước. Vào giữa thập niên 1860s, Minh Trị Thiên Hoàng của Nhựt Bổn bắt đầu cuộc cách mạng vĩ đại của Ông bằng cách gởi người đi du học ở Âu Mỹ, chủ yếu là Pháp, Anh và Nga và mướn các chuyên gia ngoại quốc vào làm việc ở các nhà máy sản xuất cho đến khi nào họ có khả năng thay thế. Cũng vậy, nhà lănh tụ Đặng Tiểu B́nh canh tân Trung Quốc bằng cách gởi các chuyên gia đi du học Âu Mỹ và sử dụng nguồn vốn ngoại quốc, chủ yếu từ kiều bào Hồng Kông, Đài Loan, Singapore và Âu Mỹ. Vào năm 1990, Trung Quốc có hơn 100.000 chuyên gia đang theo học hoặc tu nghiệp qua các chương t́nh hậu Đại Học trên thế giới, trong số đó có hơn 40.000 người ở Mỹ. Năm 2003, 700.000 sinh viên Trung Quốc được gởi đi du học. Đây là chính sách khôn ngoan của người Tàu. C̣n Việt Nam hiện nay ra sao?

 

Nguồn nhân lực Việt ở hải ngoại: Biến cố 1975 đă tạo ra một cuộc di dân lớn trong lịch sử Việt Nam. Hiện nay có gần 3 triệu người Việt định cư trong 90 nước trên thế giới, nhiều nhứt ở Mỹ với độ 1,3 triệu (43%), Nga và các nước Đông Âu 300.000 (10%), Pháp độ 250.000 (8%), Canada 200.000 (6,7%), Úc Châu 156.000 (5,2%), Đài Loan 110.000 (3,7%), Đức Quốc 100.000 (3,3%), Thái Lan 100.000 (3,3%), Anh Quốc và Bắc Ái Nhĩ Lan 40.000 (1,3%), Bắc Âu 30.000 (1%)... Ngoại trừ các cộng đồng ở Nga và Đông Âu hiện c̣n gặp một số khó khăn trong đời sống kinh tế, phần lớn các cộng đồng Việt khác ở Mỹ, Canada, Úc và Tây Âu đă vượt khỏi giai đoạn khó khăn ban đầu của người di cư, đang hội nhập mau lẹ và đóng góp hữu hiệu vào phát triển kinh tế và xă hội của bản xứ. Hầu hết những kiều bào hải ngoại thường gắn bó chặt chẽ với người trong nước, qua liên hệ gia đ́nh và tinh thần quốc gia truyền thống. Năm 2005, họ đă chính thức gởi hiện kim về Việt Nam với 4 tỉ Mỹ kim và một số tiền gần tương đương không chính thức để giúp gia đ́nh, thương mại, cứu trợ, du lịch; đă góp phần không nhỏ vào tạo công việc làm, tăng lợi tức của một số người. Số tiền mỹ kim lớn này của kiều bào đă giúp cho các ngân hàng trong nước có thêm nguồn ngoại tệ làm quân b́nh dịch vụ và hoạt động xuất-nhập khẩu hàng năm. Hiện nay, b́nh quân mỗi kiều bào Việt Nam gởi tiền về đất nước khoảng hơn 1300 mỹ kim mỗi năm.

 

Trên thế giới, tiền kiều bào gởi về quê hương đạt đến 200 tỉ Mỹ kim mỗi năm, riêng Philippines độ 7 tỉ, Mexico 10 tỉ, Ấn Độ 15 tỉ. Những nghiên cứu gần đây của Ngân Hàng Thế Giới cho biết rằng số lượng di dân quốc tế gia tăng 10% dẫn đến số lượng người nghèo giăm bớt 1,6%. Cũng vậy, số tiền của kiều bào gởi về quê hương tăng 10% tổng sản lượng quốc gia GNP có thể làm giảm mức nghèo khó trong nước 1,2%. Ở Á Châu, nhiều nước có đông đảo kiều bào ở ngoại quốc và mỗi nước có chính sách khai thác nguồn nhân sự này khác nhau. Khác với Việt Nam, những chính phủ Trung Quốc, Ấn Độ và Đài Loan có chính sách ít chú trọng đến số tiền gởi về quê hương, mà họ đặc biệt quan tâm đến các đóng góp của kiều bào vào xây dựng quốc gia, qua nguồn trí tuệ và các loại thương mại khác nhau cho đất nước. Đài Loan tập trung thu hút nguồn chất xám từ nhân lực của cộng đồng hải ngoại, khuyến khích kiều bào trí thức về thăm quê hương và làm việc. Trung Quốc từ lâu khuyến khích đầu tư trực tiếp và tạo cơ hội thương mại với các cộng đồng người Tàu ở nước ngoài; do đó 80% tổng số đầu tư ngoại quốc ở nước này đến từ kiều bào của họ. C̣n Ấn Độ có chính sách đa dạng theo đuổi đầu tư trực tiếp, chuyển giao kỹ thuật, mở rộng thị trường và cung cấp chuyên gia rẻ tiền cho nước ngoài. 

 

Sau 30 năm, thế hệ di cư trẻ Việt Nam đă trưởng thành, hội nhập mau lẹ trong môi trường thuận lợi và đă có chỗ đứng vững vàng trong xă hội địa phương; thế hệ thứ hai hoặc lâu hơn (như ở Pháp, Thái Lan) đă xuất hiện và tiếp thu được nền giáo dục tiến bộ ưu đăi, nên có lớp thanh niên trí thức mới với tư duy mới, đầy nhiệt tâm của tuổi trẻ và mong có cơ hội phụng sự cho đất nước ḿnh và quê cha đất tổ. Riêng ở Mỹ, cuộc kiểm tra dân số chính thức trong năm 2000 so với 1990 như sau, phản ánh rơ rệt sự tiến bộ vượt bực của cộng đồng người Việt về cả cuộc sống hội nhập và giáo dục:

 

-        B́nh quân lợi tức gia đ́nh trong 2000:                      46.929 đô la (29.800 đô la trong 1990)

-        Nhờ trợ cấp xă hội trong 2000:                                10,2% (25% trong 1990)

-        Gia đ́nh sống dưới mức nghèo trong 2000:              14,3% (24% trong 1990)

-        Người Việt làm chủ ngôi nhà trong 2000:                  59,6% (43% trong 1990)  

 

Trong năm 2000, nghề nghiệp được phân phối như:

-        Quản trị và chuyên gia:                                  27%

-        Nghề chuyên môn về dịch vụ:                        19,4%

-        Buôn bán và văn pḥng:                                19,1%

-        Nghề nông, ngư và lâm nghiệp:                      0,5%

-        Xây cất và bảo quản:                                      5,9%

-        Sản xuất, chuyên chở, di chuyển:                    28,1%

-        Trong 25 năm tính đến năm 2.000, người Việt ở Mỹ có tŕnh độ đại học từ BS và cao hơn chiếm 19,5%.

 

Hiện trạng nguồn trí tuệ ở hải ngoại và tiềm năng: Mặc dù mới được thành lập, khả năng kinh tế c̣n thấp và t́nh trạng xă hội c̣n xôi đậu so với các cộng đồng lâu đời khác như Tàu, Philippines, Nhựt, Đại Hàn và Ấn Độ, cộng đồng Việt đă hội nhập nhanh và lớn mạnh trong mọi ngành nghề, có tiềm năng rất lớn về giáo dục, khoa học, công nghệ và quản lư kinh tế. Chắc chắn rằng t́nh trạng kinh tế và xă hội của người di cư Việt Nam trên thế giới sẽ được cải thiện nhiều hơn trong tương lai. Thế hệ thứ hai, thứ ba... hoàn toàn được lớn lên và giáo dục của xă hội tân tiến có nhiều tài năng và tinh thần cởi mở, thông thoáng hơn ông cha chúng; nên thành phần này có tiềm năng lớn đóng góp chất xám quí báu cho quê hương đất tổ, nếu được khuyến khích thỏa đáng.

 

Trong số gần 3 triệu người Việt ở hải ngoại, thành phần trí tuệ có tŕnh độ đại học và hậu đại học ước độ 10-15% hay độ 300.000-400.000 người trên thế giới, hiện đang đóng góp không nhỏ vào phát triển kinh tế và xă hội địa phương. Nhiều người hiện có vai tṛ quan trọng trong các cơ quan công quyền, công ty sản xuất, đại học, viện khảo cứu, bệnh viện, cơ sở dịch vụ và các tổ chức quốc tế. Nước Mỹ hiện có ít nhứt 150.000 nhà trí thức có học vấn từ đại học trở lên. Ngoài những lănh vực nêu trên, họ c̣n làm việc ở cơ quan nghiên cứu không gian, năng lượng nguyên tử, nghiên cứu hàng hải và nông nghiệp. Riêng ngành nông nghiệp ở Mỹ có vị thế kinh tế tương đối nhỏ, độ 6.100 người sống về nghề nông, lâm, chăn nuôi và ngư nghiệp và lực lượng chuyên môn có tŕnh độ đại học gần 400 người chuyên về nông trại chăn nuôi, ngư nghiệp, lâm sản, hạt giống, sản xuất nông sản, khảo cứu và kinh nghiệm quốc tế. Các nông trại chăn nuôi gà Việt Nam đang phát triển mạnh ở các tiểu bang Alabama, Georgia, Florida…; trồng rau cải, cây ăn trái ở Cali, Texas, Florida…; đánh cá ở Louisania, Cali, Alaska…

 

Công nghệ thông tin là lănh vực phát triển mau lẹ hơn hết, là yếu tố quyết định cho sự tăng trưởng của các mặt kinh tế quan trọng như ngân hàng, tài chánh, bảo hiểm, du lịch, viễn thông, hàng không và quản lư hành chính. Đây là một ngành mà người Việt có ưu thế ở hải ngoại, được thể hiện qua áp dụng vi tính, công nghệ phần mềm và hệ thống quản lư tự động. Trong mạn lưới lớn nhứt thế giới được gọi Global Internet Working, có một mạn lưới của người Việt tên Vietnamese Social Culture có 40.000 nhà trí thức hải ngoại tham dự. Trong số này 65% chuyên ngành vi tính, 15% là kỹ sư và 20% hoạt động trong lănh vực khoa học xă hội và con người. Riêng ở thung lũng hoa vàng “Silicon Valley” ở San Jose, khu công nghệ cấp cao ở San Diego có hàng ngàn chuyên viên Việt Nam về công nghệ thông tin (IT), sinh học và điện tử đang làm việc ngày đêm tại hàng chục công ty của người Việt. Đặc biệt thành phần trẻ ở Mỹ, Canada, Úc và Tây Âu được đào tạo và làm quen với công nghệ cấp cao gồm cả thông tin - truyền thông và sinh học, hai lănh vực có tiềm năng to lớn trong thế kỷ 21, cũng như khâu quản lư kinh tế, ngân hàng và vấn đề an ninh thị trường. Nếu điều kiện chính trị thuận lợi, họ c̣n có thể giúp Việt Nam nối liên lạc và tiếp cận với các cơ quan quốc tế, các viện nghiên cứu, trường đại học và các đại công ty đa quốc gia để phát triển hợp tác trong các công cuộc nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ, trong lúc xứ sở chưa đủ khả năng về tài chính và trí tuệ, chẳng hạn trong lănh vực khoa học và công nghệ sinh học. Cũng cần nhớ rằng đào tạo chất xám cũng như có được các kỹ thuật cấp cao đ̣i hỏi rất nhiều thời gian và tốn kém tài chính, mà các nước đang phát triển khó có thể thực hiện mau lẹ để đáp ứng nhu cầu tiến bộ.

 

Một cách tổng thể, theo thông tin hải ngoại và quốc nội về phân bố các nhà trí thức ở một số quốc gia như sau: 

-        Mỹ: Ít nhứt độ 150.000 người có bằng đại học hoặc cao hơn, mà đa số là thanh niên. Lănh vực làm việc chính của họ gồm có tin học, điện tử, công nghệ cơ khí, kiến trúc, thiết kế, hóa học, vật lư học, y tế, giáo dục, quản trị thương mại, không gian, liên lạc quốc tế, dầu khí, nông nghiệp và sinh học. Khoảng 10.000 người làm việc ở thung lũng Silicon, San Jose và khu công nghệ San Diego. Độụ 150 người làm việc cho Ngân Hàng Thế Giới, 100 người làm việc chuyên môn cho các cơ quan LHQ (FAO, IFAD, UNESCO, WHO, ILO, UNIDO, UNICEF...). Độ 3.000 bác sỹ đang hành nghề trong nước Mỹ (Liên lạc cá nhân với Bác Sỹ Tôn Trần, 10-2005).

-        Pháp: có khoảng 40.000 người Việt trí thức đang sống ở nước này. Độ 30% số người này có bằng cấp cao và làm việc trong nhiều lănh vực như vật lư, toán học, công nghệ thông tin và hóa học.

-        Canada: Có độ 2000 người trí thức chuyên về lănh vực viễn thông, công nghệ tin học, điện tử, môi trường và sinh học.

-        Đức Quốc: Có hơn 300 nhà trí thức, chuyên về khoa học, công nghệ, năng lượng, hóa học, khai thác dầu khí, kiến trúc và công ty dược phẩm.

-        Anh Quốc: Có khoảng 100 nhà trí thức làm việc trong ngành tài chánh và thị trường an ninh.

-        Bỉ: Có độ 500 trí thức làm việc về công nghệ tin học, nông nghiệp, báo chí và ngư nghiệp.

-        Nhựt Bổn: Có độ 80 trí thức làm việc về ngành kinh tế, hóa học, dược phẩm, nông lâm ngư nghiệp.

-        Úc: Có khoảng 7.000 trí thức về công nghệ tin học, nông nghiệp và điện tử.

-        Nga và Tây Âu: có độ 4.000 người Việt có bằng cấp đại học. Khoảng 2.500 người ở Nga. Họ làm việc về vật lư học, điện tử, dầu hỏa, kỹ sư, hóa học và y tế.

 

Theo báo cáo về sử dụng nguồn trí tuệ hải ngoại hiện nay trong nước, người Việt ở hải ngoại về nước làm việc trong một số lănh vực. Hàng năm độ 200 nhà trí thức từ Mỹ, Pháp, Đức, Nhựt Bổn và Thái Lan về nước với tư cách nhà giảng dạy ở một số đại học và viện, làm tham vấn, thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học và liên hệ đến sản xuất, chuyển giao kỹ thuật. Con số này c̣n quá ít so với hơn 300.000 nhà trí thức hiện sinh sống nước ngoài. Một số trí thức Việt c̣n tham vấn cho một số chuyên gia ngoại quốc muốn làm việc ở Việt Nam và t́m học bổng cho nhiều thanh niên giỏi Việt Nam theo học ở các đại học nước ngoài để lấy bằng cấp hoặc tu nghiệp.

 

Chương tŕnh TOKTEN của Chương Tŕnh Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) được thiết lập cho Việt Nam từ 1989 để khuyến khích những nhà trí thức trẻ hải ngoại có kinh nghiệm tối thiểu 5 năm về làm việc trong nước với thời hạn cố định từ 6 tháng cho đến 2 năm, tùy theo nhu cầu; nhưng việc thực hiện chương tŕnh này c̣n chậm chạp. Đến nay, người Việt ở hải ngoại chỉ đầu tư trong 610 dự án nhỏ, có trị giá độ 500 triệu Mỹ kim và 850 tỉ đồng VN. Theo thống kê trong nước cho biết 29% số người Việt này bỏ vốn trong các dự án đầu tư ngoại quốc, 14% bắt đầu làm thương mại ở Việt Nam, 14% thực hiện các cuộc nghiên cứu khoa học và chuyển giao kỹ thuật và 44% tŕnh bày các báo cáo khi họ đến thăm viếng Việt Nam. Một số người Việt nước ngoài đang giữ địa vị quan trọng trong nhiều công ty công nghệ thông tin trong nước và đóng vai tṛ trung gian nối liền giữa công ty của họ và khách hàng ở Việt Nam.

 

Sự phát triển mau lẹ của Đài Loan từ thập niên 1960s và Trung Quốc từ 1980s phần lớn do sự đóng góp lớn lao của kiều bào của họ ở hải ngoại. Đài Loan là một đảo lạc hậu trước năm 1949, nhưng đă phát triển nhanh, có tầm vóc một nước công nghệ tiên tiến hiện nay, chủ yếu nhờ vào làn sống di cư từ lục địa và đầu tư trực tiếp lớn lao của người Tàu nước ngoài. Trung Quốc đang trở thành một siêu cường trên thế giới với sự đóng góp chất xám và đầu tư lớn lao của kiều bào. Mă Lai Á đang trở nên một nước đă phát triển ở Á Châu. Thái Lan đă tiến bộ hơn Việt Nam từ 20-25 năm. Bao giờ Việt Nam mới có cơ hội để kiều bào Việt có niềm phấn khởi, cảm thấy an toàn tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế trong nước, đặc biệt mau chóng đưa xứ sở tiến bộ để đốt giai đoạn tụt hậu hiện nay?  

Trần Văn Đạt, Ph.D.

Hoàng Hôn Trong Tim

 

(Tặng D.)

 

Xin gởi nắng về em vào mỗi sáng

Để má hồng môi rực rỡ ngày xưa

Che nắng hè ru khẽ giấc nồng trưa

Quên đi em… dấu ấn đời xuôi ngược.

Nắng hoàng hôn về vườn tim ngơ trước

Ṿm cây xanh rơi rớt hạt nắng vàng

Trên thảm cỏ âm thầm nắng vỡ tan

Em bỗng thấy vô thường bên tha thiết…

Anh se ḷng nh́n đời ai thua thiệt

Sắc tài này, ḍng nhạc đó, tóc xanh

Bao ước mơ c̣n trong sáng an lành

Dù đánh mất dấu chân đầu hạnh phúc

Dù hụt hẫng một lần em cất bước

Giá tự do… đă trả một phần đời!

Rượu đêm tàn chắc cay đắng ai ơi!

Dẫu hoàng hôn trong tim trời vẫn sáng.

 

Huy Lữ 

 

Tài Liệu Tham Khảo:

 

1)  Vietnam Economic News. 2004. Overseas Vietnamese: Investors of the future (http://www.venorg.vn/print_news.)

2) Asia and the World. 2005. Calling all overseas Vietnamese. VietNamNews, date 17-08-2005 (http://www.asianewsnet.net)

3) Đặng Nguyên Anh. 2005. Enhancing the development impact of migrant remittances and diaspora: The case of Viet Nam. Paper presented at the Regional Seminar on the Social Implications of International Migration, 24-26 August 2005, Bangkok, Thailand.

4) Page, J and Adams, R.H. 2003. International migration, remittances, and poverty in developing countries. World Bank Policy Research Working Paper, No. 3179: Washington D.C.

5) Committee for Overseas Vietnamese. 2005. Overseas Vietnamese community: Questions and answers. Committee for Overseas.  (http://www.mofa.gov.vn)