VÀI KƯ ỨC VỀ TRƯỜNG CŨ

Nguyên Nguyên
__________________________________________________________ 

Năm đó có lẽ là 1958. Tôi may mắn đậu kỳ thi tuyển vào lớp Đệ Thất trường Trung Học Công Lập Petrus Trương Vĩnh Kư sau môt năm dài ở lại lớp Nhất trường Tiểu học Bàn Cờ v́ h́nh như tôi không đủ điểm để đậu bằng Tiểu học vào năm trước đó.Kỳ thi tuyển tôi nhớ được tổ chức tại trường Phan Văn Trị hay Cầu Kho ở đường Trần Hưng Đạo. Kết quả thi vào đệ thất (tức lớp 6 bây giờ) của tôi không được suông sẻ lắm bởi v́ đề toán đố năm đó đối với tôi rất khó và h́nh như gồm một hai bài toán có cái màn vặn một ṿi nước rồi văn hai ṿi nước cho đến lúc nước đầy hồ. Do đó tôi chỉ được đậu vào Đệ Thất với hạng Dự Khuyết thứ 58 trong số 60 thí sinh trúng tuyển "với hạng dự khuyết"!
  
Dạo đó ở cấp tiểu học tôi sợ nhất là loại toán vặn tắt, mở một hai ṿi nước. Tôi thường nghĩ là nhà ở Sàig̣n lúc đó đâu có mấy ai có ống nước chạy thẳng vô nhà với "công-tơ" riêng đàng hoàng. Muốn có nước uống hay để tắm rửa th́ phải ra fông-tên ở đầu xóm mà hứng rồi gánh nước về đổ vào hồ vào lu, chứ làm ǵ có chuyện vặn ṿi nước trong nhà hay là chuyện tưởng tượng vặn hai ṿi nước một lượt !! Tội nghiệp nhất là mấy Thầy mấy Cô - làm sao giảng nghĩa cho trôi chảy cái vụ vặn nước kịt kịt nầy cho mấy cái mái đầu xanh trong lớp. Vậy mà Nha Trung Tiểu Học và B́nh Dân Gíao Dục thời đó lại rất thích ra đề thi Tiểu- Học và thi tuyển vào Đệ Thất cái loại toán hóc búa kiểu nầy. Cũng giống như mấy kỳ thi tuyển vào Kỹ Sư Phú Thọ thời đó.Đề toán thi vào Phú Thọ thường được chọn từ những cuốn sách toán của chương tŕnh năm thứ nhất, thứ hai bộ môn Toán cỡ MPC, MGP hay MG ở đại học Khoa Học - nào là tâm quay tức thời, cực-đối cực và nghịch đảo, v.v. mà giới học tṛ luôn luôn đồn đại với nhau rằng giá mấy giáo sư toán đệ nhất đi thi lại nhiều khi c̣n bị bí nữa là khác (!!). Điều nầy tuy có vẻ đúng nhưng xem ra không được mấy công bằng, bởi v́ nếu có hỏi chính những người đă đậu Tú Tái 2 ban toán thử giải bài toán vặn ṿi nước theo kiểu Tiểu Học vẫn chưa chắc họ có thể giải ra.Trong loại toán đệ nhất dùng để thi tuyển đó, đường thẳng tự nhiên bị phép nghịch đảo biến thành ṿng tṛn, và ṿng tṛn bị quay cái kịt biến thành cái parabole. Rồi c̣n có cái nạn chứng minh hay t́m ra một ṿng tṛn chạy qua được 9 điểm của miền cửu trùng thuộc khu tam giác đồng, với đường kính chứa chấp cả một hàng điểm điều hoà của quân trường Thủ Đức(!).
    Trở lại chuyện tôi bị vào sổ Dự khuyết. Tức chỉ được nhập học khi có chỗ trống do những học sinh đă được đậu hạng đàng hoàng bỏ ngang, tức là phải chờ và đợi. Và trong thời gian chờ đợi đó Thầy Mẹ tôi gởi tôi la cà ở mấy trường Trung học Tư thục chung quanh xóm Bàn Cờ. Nào là Hoàng Việt, Kiến Thiết, v.v.
    Tôi nhớ tôi đi học trường tư với một anh bạn cùng xóm tên Thiện. Anh nầy xem như là "thủ trưởng" của thiếu niên ở xóm tôi, nếu gọi theo ngôn ngữ thời nay. Học hành th́ chỉ có mua sách mua vở lấy lệ thôi chứ thủ trưởng thường ra lệnh "cúp cua" nên chẳng có thu thập kiến thức bao nhiêu. Tôi cứ thơ ngây nghĩ rằng sớm muộn ǵ cũng có chỗ trống ở lớp Đệ Thất và trường sẽ kêu vô, nên lợi dụng thời gian "dự khuyết" này ḿnh đi chơi cho nó đă.
    Thành thật nh́n nhận rằng Thầy Cô trường tư nhiều người dạy cũng rất hay, nhưng v́ trường tư của ta thời đó không áp dụng kỷ luật đầy đủ và quá chú trọng đến khía cạnh thương măi - ai đóng tiền là được vào học mà không để ư đến "thành tích cúp cua" (tức trốn học) nên các trường công lập mới được giữ vững niềm tín nhiệm của giới phụ huynh. H́nh như chỉ có khác "có điểm đó và chỉ có điểm đó mà thôi" nên nền giáo dục tư thục thời đó khác với tư thục của các nước tiên tiến bây giờ. Trường tư tức trường dân lập – ngay cả cấp đại học - ở các nước tiên tiến bây giờ rất sáng chói, và “đáng giá” hơn trường công. Nhất là ở thời đại "money talks" hiện tại.
    Dù sao giáo dục tư thục thời đó cũng rất nổi và giúp ích rất nhiều cho học sinh trung học ở những lớp có kỳ thi cuối năm như lớp Đệ Tứ (lớp 9 bây giờ), lớp Đệ Nhị, Đệ Nhất (tức lớp 11&12). Đó là những lớp "luyện thi", những lớp hè - lớp Toán Lư Hoá, lớp Anh văn, Pháp văn, v.v. Những lớp này đă giúp đỡ học sinh rất nhiều trong việc ôn luyện lại những nguyên tắc và định lư căn bản đă học hay là sắp sửa học ở trường- thường thường là trường công.
    Đa số những học sinh trường công đều trải qua những lớp luyện thi hay các lớp hè tại các trường Tư Thục này. Hồi đó có những ngôi sao sáng trong giới giáo sư dạy các lớp hè và các lớp luyện thi.Thử kể lại vài tên quen thuộc trong kư ức : Nguyễn văn Tụ, dạy toán luyên thi “Trung Học Đệ Nhứt Cấp” ở một trường nằm đầu đường Cao Thắng cần phải dùng micro bởi lớp của ông rất đông. Có lẽ một lớp học cấp trung học đầu tiên, ông Thầy phải cần đến máy khuếch đại âm thanh.  Nguyễn Lung ở trường Kiến Thiết, Nguyễn văn Phú ở trường Hưng Đạo. Bùi Hữu Sủng, Bùi Hữu Đột ở đường Bà Huyện Thanh Quan. Phạm Kế Viêm và Vơ Thế Hào ở một trường gần rạp hát Nam Quang tại Chợ Đũi. Nguyễn văn Kỹ Cương cũng ở một trường gần Chợ Đũi. Nguyên Sa Trần Bích Lan (Triết), Trần Thế Hiển -Nguyễn Bích Như (Lư Hoá) ở trường Văn Học gần Bệnh viện B́nh Dân thuộc khu Bàn Cờ. Nguyễn ngọc Linh dạy Anh Văn ở trường Lê Quư Đôn, Lê Bá Kông và Lê Bá Khanh trường Ziên Hồng, đầu tiên tá túc tại trường Hoàng Việt, sau dời đến trường sở riêng tại đường Kỳ Đồng. Ở trường Ziên Hồng tôi được dịp học cùng lớp với anh Trần Quang Hải cũng gốc Petrus Kư, trên tôi hai lớp. Học đến đệ Tam anh Hải dông đi Tây du học tự túc về ngành âm nhạc cho tận gốc.
    Các giáo sư dạy tư lúc đó (khoảng đầu thập niên 60) thường là giáo sư các trường công lập lớn tại Sàig̣n - phần đông từ trường Chu Văn An, lúc đó mới chia tay tạm trú trường nhà và ra riêng ở một cơ sở mới gần Ngă Sáu Chợ Lớn.Phương pháp dạy tư ở các lớp học thêm và luyện thi thường chú trọng nhiều đến việc giải nghĩa và tạo dựng cho học sinh căn bản lư thuyết hơn là giải các bài toán hóc búa, và thường chỉ dẫn những cách giúp trí nhớ đối với các công thức hoặc định lư khô khan và quá trừu tượng.Thí dụ muốn nhớ các tỉ số lượng giác (trigonometry) như là sine, cosine, tan và cotan th́ ta chỉ cần học nằm ḷng bài thơ lục bát sau đây mà tôi c̣n nhớ măi cho đến lúc dạy học và nghiên cứu khoa học ở thập niên 80 tại Úc - và măi cho đến ngày hôm nay:
        T́m SIN lấy đối chia huyền
  
     COSIN ta lấy kề huyền chia nhau
  
     T́m TAN muốn tính cũng mau
  
     Đối trên kề dưới thế nào cũng ra
  
     COTAN nghịch đảo TAN mà
  
     Bốn tỉ lượng giác thật là dễ thay.

    Trở lại chuyện tôi vào học trường Petrus Kư. Lang bang với thủ trưởng của tôi được chừng hai ba tháng th́ tôi nhận đươc thư báo của trường báo có chỗ trống rồi và kêu tôi vào học. (Một hai tháng sau khi tôi từ giă thủ trưởng để vào trường, thủ trưởng cũng chào tạm biệt với lông bông lang bang để vào trường tư nổi tiếng Taberd rồi học luôn một mạch lên đại học tới khi ra tốt nghiệp làm Thẩm Phán).Tôi nhớ buổi đầu vào trường tôi được sắp vào lớp Đệ Thất D, ban Anh văn. Lớp Đệ Thất D nằm trên lầu phía bên văn pḥng Hiệu Trưởng (lúc ấy là ông Trương). Lúc đó trường chỉ có hai dăy song song là có hai tầng thôi. Đến năm tôi học khoảng lớp Đệ tứ  th́ dăy trệt đối diện và song song với đường Cộng Hoà (tức Nguyễn Văn Cừ bây giờ) - thường dùng làm pḥng thí nghiệm Lư Hoá - mới được lên lầu hoàn tất h́nh chữ U hai tầng liên tục cho các lớp học, đi từ khu pḥng hiệu trưởng chạy ṿng cho đến khu pḥng họp Ban giáo sư.Bởi nhập học trễ nên tuần lễ đầu tiên tại trường Petrus Kư đă gây cho tôi rất nhiều ác mộng, và những cảm tưởng sợ sệt hăi hùng.Nhớ bữa đầu tiên giờ ra chơi nghe mấy bạn cùng lớp ngâm nga ôn lại bài học thuộc ḷng của môn Việt Văn mang tựa là "Lục Súc Tranh Công" gồm mấy con ngựa, heo, trâu, ḅ, dê và chó ǵ đó đang lo tranh giành công trạng với chủ nhân - mà thấy lùng bùng hai tai.Thầy dạy Việt Văn năm Đệ Thất đó, thầy Nguyễn Văn Thiện, rất mê thơ Đường. Khi chúng tôi lên đệ lục hay đệ ngũ ǵ đó, thầy Thiện bị bắt gởi đi Côn Đảo v́ có liên lạc mật thiết với phía "bên kia". H́nh như cùng bị bắt một lượt với thầy là hai anh bạn cùng lớp với chúng tôi - Nguyễn văn Sáu đỗ thủ khoa vào đệ thất, và Lê văn Na, có năm ngồi kế bên cạnh tôi ở bàn đầu. Sáu và Na rất thân với chúng tôi nên việc hai anh bị bắt đi biệt tích gây nhiều ấn tượng khó quên.
    Sau mùa hè 75, thầy Thiện được trở về và làm Hiệu Trưởng trường được chừng một năm rồi thuyên chuyển về một trường ở miệt Chợ lớn cho đến khi về hưu. Đến năm 95 tôi có về Việt Nam nhưng bận rộn quá nên thật sự không có th́ giờ qua chào hỏi ông Thiện, một ông Thầy cũ rất đáng mến của chúng tôi.
    Các Thầy dạy Việt văn chúng tôi ở mấy năm sau đa số cũng đều xuất sắc. Đáng kể nhất là thầy Đỗ Quang Vinh - mặt hơi xanh. Ông này giảng bài văn xuôi rất hay, năng động và rất chi tiết.
    Tôi nhớ măi bài giảng đầu tiên của ông, bài “Nhành Lúa Mới”: "Tôi tới một miền quê kề bên một trận địa vào một chiều hoe nắng cuối mùa. Ở đây cánh đồng loáng nước nằm dài vắng bóng người nông phu cần mẫn. Nh́n vào thôn xóm, không một bóng người. Khóm tre xơ xác, mái tranh im ĺm…" rồi bài giảng thứ hai là bài Tôi Đi Lính: "Thế là tôi đi lính…Và sau nầy nếu tôi có chết, th́ cái chết của người chiến sĩ là cái chết vinh".Bài nào chúng tôi cũng mê say lắng nghe thầy giảng - lớp học im phăng phắc. Các thầy Việt văn khác là thầy Tích giảng khá hay về thi văn, thầy Thái Chí thường đem thơ văn của chính thầy sáng tác ra ngâm nga cho học tṛ nghe:
        Sông Sàig̣n sông bao nhiêu nước
  
     Nước Sàig̣n mấy thước bề sâu… 

    Thầy Tạ Kư dạy lớp đệ tứ giới thiệu chúng tôi truyện Kiều và thơ văn các ông Nguyễn Khuyến, Tú Xương rất thành công. Thầy Tạ Kư, một nhà thơ khá nổi tiếng, dạy nhiều trường tư thục. Và h́nh như cũng là bạn thân thiết với ông nhà họ Lưu tên Linh, bởi khuôn mặt thầy thường đỏ. Học tṛ đa số đều mến những ông thầy ưa nhậu như thầy Tạ Kư dạy môn Việt văn, thầy Thái dạy Anh Văn.
    Lên tới lớp Đệ Nhất (lớp 12) tôi nhớ h́nh như không c̣n môn Việt văn nữa và môn này được thế bằng môn Triết học, do thầy Nguyễn Ngọc Thọ h́nh như tốt nghiệp thủ khoa ở Đại Học Đà Lạt về dạy. Thầy Thọ dạy khá hay v́ đọc "cua" triết cho học tṛ chép. Cua Triết của ông Thọ cũng ngắn và gọn y như của giáo sư Trần Bích Lan ở Chu Văn An, tôi được theo học chừng một hai tháng tại trường tư thục Văn Học ở gần nhà. Vậy mới đươc, chứ nhằm môn triết mà bảo học tṛ đọc sách th́ có môn "chết" bởi cuốn nào cuốn nấy dày cộm và rất khó hiểu. Nội mấy cái từ mới chuyên dùng cho triết là cũng đủ chết rồi. Nào là trực giác, phép quy nạp, phép diễn dịch, tha nhân, t́nh liên đới nhân loại,v.v.Thầy Thọ ưa đem dẫn chứng "t́nh liên đới nhân loại" bằng cuốn phim La Strada (của Federico Fellini) do Anthony Quinn thủ vai một người đóng xiếc dạo Zampano mua đươc một cô gái câm làm trợ tá đi lưu diễn qua các đường lộ (La Strada - The Street) xuyên qua các làng mạc và thành phố Ư. Vai cô gái câm do Giulietta Masina, vợ của đạo diễn Fellini đóng. Thầy nhấn mạnh đến đoạn cuối của phim, sau khi cô gái câm đă qua đời, lúc Zampano than khóc,  rồi nh́n lên "bầu trời đầy sao" mà liên tưởng đến "t́nh liên đới nhân loại".
    Dạy Anh văn năm đệ thất là thầy Nguyễn Kỉnh Đốc, đặc biệt với dáng người thể thao chuyên chạy chiếc Vespa láng coóng. Tôi nhớ rơ thầy Đốc v́ nhập trường trễ nên tôi đội sổ môn Anh văn trong mấy tuần lễ đầu. Thầy Đốc bảo tôi về chép lại bài học trong quyển L’Anglais Vivant - 6è Bleu - và chép cho tới khi nào mỏi tay th́ thôi.Kết quả, tôi đươc tiến bộ trông thấy, nên thầy Đốc bảo tôi lên đứng giữa lớp - cùng với anh Trần Minh Đức (về sau thi nhảy, đổi qua Chu Văn An, rồi du học tại Úc về Kỹ Sư Điện, tốt nghiệp trở về dạy trường Phú Thọ) - tường thuật bí quyết học Ăng-Lê của chúng tôi.Sau nầy tôi gặp thầy Đốc hai lần nữa, một lần khi đi thi tú tài 2 tại trường Quốc Gia Sư Phạm, và một lần nữa thấy thầy đánh tennis - h́nh như có cả thầy Lại Nam Long - ở Cercle Sportif gần vườn Tao Đàn vào đầu năm 1975. Các thầy dạy Anh văn khác trong thời gian trung học tôi nhớ rất nhiều bởi tôi khá thích môn này sau sự động viên tinh thần của thầy Đốc:

·        Cô Sáu - một Cô rất khả kính, nghiêm nghị,
·        thầy Tắc, hơi khó tính, nghiêm túc,
·        thầy Phong , thuộc giới trẻ, tóc dợn sóng, có vẻ rất uyên bác,·        cô Tuyết, cô giáo trẻ ăn mặc theo mốt thời trang, được nhiều học tṛ kính mến
·        thầy Song, tướng người quắc thước, lông mày rậm, thường nhấn mạnh về cách phát âm. Tôi nhớ măi thầy phát âm chữ First (thứ nhất) có vẻ rất Ăng Lê,
·        thầy Thái, ông này rất yêu nghề và yêu nhậu, khuôn mặt lúc nào cũng đo đỏ - nhà thầy cũng ở xóm Bàn Cờ, bọn học tṛ chúng tôi có gặp Thầy đi nhậu một hai lần. Tội nghiệp thầy qua đời sớm v́ bạo bệnh lúc chúng tôi đang học lớp đệ tứ.
    V́ chọn sinh ngữ 1 là tiếng Anh nên đến năm đệ tam chúng tôi mới được học tiếng Tây tiếng U. Chương tŕnh học quay chung quanh gia đ́nh của Monsieur Vincent gốc người Gia Nă Đại. Thầy dạy Pháp văn là ông Ái và ông Ngọc. 

    Nhớ đến Thầy Ái là nhớ đến một ông Thầy có tinh thần "nâng đỡ gà nhà" rất kỹ. Lúc nào thầy cũng tuyên dương các học tṛ giỏi của các lớp với nhau để động viên tinh thần ganh đua của toàn trường. Thí dụ lúc dạy lớp chúng tôi th́ thầy nhắc đến các học sinh xuất sắc những lớp khác, đến những lớp đàn anh như Nguyễn Hữu Anh, Đặng Huấn, v.v. Năm 1988 tôi được gặp lại thầy Ái tại Paris. Lúc đó thầy mới làm sui gia với một gia đ́nh quen thân với bà xă. Dù bận rộn thầy Ái cũng chở chúng tôi đi một ṿng thăm Paris by Night và chụp một hai tấm ảnh kỷ niệm ở chân tháp Eiffel. Thầy Ngọc, có mái tóc dợn sóng, có giọng nói nhỏ nhẹ và rất "tây".
    Thầy dạy Vạn vật đầu tiên năm đệ thất tôi nhớ rơ là thầy Đặng. Nhớ rơ bởi v́ tôi không biết v́ sao tôi được hạng nhất năm đó về Vạn Vật. Tôi c̣n nhớ lúc thầy trả lại bài thi đệ nhất lục cá nguyệt tôi đươc 18/20 mà tôi nghi là thầy chấm lộn, nên lật đật úp bài thi lại và không cho bạn trao đổi nhau để so sánh nữa.Thế là năm đó tôi, lần đầu tiên trong đời đi học, được vinh dự được đi lănh phần thưởng của trường với "một lần xướng danh" (!) về môn Vạn Vật, tổ chức tại trường Quốc Gia Sư Phạm ở gần đó, bên cạnh trường Sinh ngữ (góc đường Thành Thái với Cộng Ḥa - cũ).Các thầy dạy Vạn Vật nữa phải kể đến: thầy Lộc, thầy Huệ (có bài thơ ngắn giúp trí nhớ về các tuyến xúc tác trong cơ thể con người), thầy Hoàng Kim Tháp (h́nh như em của thầy Hoàng Ngọc Quỳ dạy toán), thầy Nam nhỏ người rất hiền hậu - nghe nói đă lên núi tu tiên tại Đà Lạt. (Cách đây vài năm thầy Ái về thăm Việt Nam, cũng t́m ra thầy Nam và hai ông Thầy có chụp chung một bức ảnh kỷ niệm đăng trên các báo Petrus Kư khắp nơi). Và thầy Lê Đ́nh Hạnh - một ông thầy rất năng động, có viết sách Vạn Vật Đệ Nhất.Chương tŕnh trung học lúc đó c̣n có một môn cũng khá quan trọng về mặt đào tạo con người - nhưng không quan trọng về hệ số trong điểm thi - là môn Công Dân Giáo Dục. Môn học này dạy học tṛ cách xử thế trong xă hội, thí dụ như khi ngồi vào bàn tiệc th́ ngồi bên phải hay bên trái các người đẹp ở trường Gia Long (tức trường Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ) - hay là ngồi giữa hai người đẹp, v.v. Môn công Dân cũng dạy về các lư thuyết chính trị, tự do, dân chủ (thật ra mấy cái đề tài này - theo thực tế cho thấy - có dạy tôi măn đời cũng chưa hết !!), các thể chế chính trị ,v.v.Trong mấy năm gần đây sau khi có con em đi qua chặng đường trung học nhiều người bạn tôi thường vinh danh lại cái môn Công Dân Giáo Dục này mà chương tŕnh học ở các nước tây phương bây giờ ít có.Dạy Công Dân thời đó có thầy Mẫn (ông này hồi đó vừa giảng vừa để ư xem em nào ở dưới lớp đang nói chuyện là ổng cho hai con số 00 vào sổ), thầy Thái (cũng dạy Anh văn - ông này rất tận tâm, nhất là ưa đề cập đến nhảy đầm lúc đó đang bị dân biểu Trần Lệ Xuân ra lệnh cấm chỉ), thầy Bùi Trọng Chương (thầy có cử nhân luật và dạy các thể chế chính trị rất nghiêm túc (dân chủ = democracy= demos + kratos, tiếng Hy Lạp), và nhiều kỷ niệm nhất với mọi lớp là thầy Tăng văn Chương.Thầy Chương có hai điểm để học tṛ nhớ tới, có khi cả đời: thầy thích đi câu cá, và thích kể chuyện cổ điển phương Tây nhất là Le Cid. Thầy kể chuyện vào lúc c̣n năm mười phút nữa th́ tan giờ học nên chuyện phải kể tuần này qua tuần nọ và kéo dài hàng tháng hàng năm!. Thầy Chương được học tṛ mến chuộng đến độ không bao lâu sau, thầy được giao công tác Tổng Giám Thị toàn trường.
    Tạm ngưng một chút về thầy cô để kể qua về cấm túc. Cấm túc tức là bị consigné, thường gọi nôm na là "cồng xin" tức là trước đó đă bị thầy nào hay cô nào đó tặng cho hai con số 00 có đóng khung đàng hoàng. Tôi rất hăi sợï cồng xin nhưng may mắn suốt 7 năm trung học tôi chỉ suưt bị thôi chứ chưa bị lần nào.Học tṛ bị cồng xin phải vào trường chép bài - và "học tập"- vào buổi sáng chủ nhật cuối tuần. H́nh như phu huynh cũng phải kư tên vào một tờ giấy để tuyên hứa với trường là sẽ quản lư con em cho nghiêm chỉnh hơn trong tương lai.Có một lần tôi suưt bị cồng xin là vào năm đệ nhất giờ toán. Không hiểu bửa đó tôi bị nhức đầu nóng lạnh hay là muốn cúp cua, trốn học đi xem xi-nê ǵ đó. Sắp tới giờ toán ông Lễ tôi chạy ra nhà giữ xe mở khoá xe đạp rồi nhảy lên dông ra khỏi trường.Không may lúc đó ông Lễ đă vào lớp bắt đầu giờ toán. Ông ấy đứng trên bục giảng gần bàn giáo sư bên cạnh cửa sổ trên lầu lớp đệ nhất B4 nh́n xuống thấy ngay tôi đang sắp sửa nhảy lên xe đạp. Tiện tay sổ điểm đă mở sẵn thầy Lễ ghi vào bên cạnh tên tôi hai con số 00 to tướng. Ông Lễ gần đây được giao việc Hiệu Trưởng một trường trung học ở miệt Gia Định.
    Nhắc tới ông Cam Duy Lễ là nhắc tới các thầy cô dạy toán ở trường. Đa số đều dạy rất hay. Ngoài ông Lễ c̣n có cô Khả (đă qua đời vào khoảng đầu thập niên 80), thầy Phan Lưu Biên, thầy Trần Thành Minh (rất được nhiều tṛ mến chuộng ), thầy Tuế, thầy Hoàng Ngọc Qú.Có một thầy toán dạy chúng tôi năm đệ lục mà lâu ngày tôi cố moi óc nhưng không nhớ rơ tên v́ tên trùng với một ông thầy khác nên tôi ngờ ngợ, nhưng hôm nay nhờ bạn cùng lớp Lê Ngọc Chí Bửu hiện ở Sydney, tôi mới chắc chắn đó là thầy Nam, khác với thầy Nam dạy Vạn Vật.Thầy Nam dạy toán có dáng người rất thể thao, hơi thấp, có lẻ lớn tuổi hơn cấp thầy Lễ chừng một hai năm - thầy vẽ ṿng tṛn trên bảng chúng tôi thấy mê luôn. Nó tṛn vo mà không cần compa. Năm đệ lục, thầy Nam đă giới thiệu cho chúng tôi biết thế nào là hai đường song song, đó là hai đường thẳng chỉ gặp nhau hay đồng qui, ở vô cực mà thôi !!.
    Dạy Lư Hoá th́ có các thầy Nhạc (có một thời làm Tổng Giám Thị trường), thầy Hàn, cô Hồng, thầy Trang Sĩ Tấn (Lúc đó tôi nhớ thầy có tiết lộ là trong tương lai thầy sẽ đổi nghề. Nhưng hoàn toàn không ai trong chúng tôi ngờ rằng thầy đổi nghề từ gơ đầu trẻ đến đánh đít trẻ trong cái thế của cảnh sát đô thành phải đương đầu với sinh viên học sinh đi xuống đường biểu t́nh), thầy Ngữ ( dạy nữa chừng rồi đi Thủ Đức, h́nh như thầy Thuận thay thế), thầy Nguyễn ngọc Đính.Thầy Đính chịu khó đọc "cua" Vật Lư cho học tṛ chép nên học không bị vất vả. Đến khi ông Lập thay thế - ông Lập vẫn đọc cua nhưng đề nghị thêm học tṛ nên mua cuốn sách Vật Lư của Gs Lê Xuân Mai để tham khảo, một quyển sách dầy cộm không tiền khoáng hậu thời đó. Trước khi thầy Lập tính lập hội Ái Hữu Pétrus Kư tôi có nhắc thầy kỹ niệm nhỏ này. Gs Lê Xuân Mai tôi được đọc ở đâu đó - về sau nầy đă lên Đà Lạt để thiền và cũng để t́m lại, trong lắng đọng cuộc đời, những mô-măng quán tính, và những chuyển động h́nh sin nhẹ nhàng của ḍng đời.
    Ở lớp đệ thất chúng tôi cũng được học âm nhạc với thầy Chiêu và hội hoạ với cô Thịnh. Thầy Chiêu dạy chúng tôi môn âm nhạc ở lớp đệ thất. Thầy ưa mắng học tṛ theo phong thái của người phía Bắc. Học tṛ vẫn thích thầy bởi thấy Thầy thực t́nh yêu mến học tṛ, và giới thiệu Do-Re-Mi-Fa-Sol-La-Si khá vui. Cô Thịnh tôi c̣n nhớ giữ mái tóc thề khá dài. Cô dạy chúng tôi môn hội họa năm đệ Thất. Có lẽ chỉ năm này có môn hội hoạ thôi nên nhiều lúc nhớ đến hội hoạ hay phải dùng đến tài vẽ chân rắn chân rùa tôi thường nhớ đến cô Thịnh, với giọng nói nhỏ nhẹ.
    Huấn luyện thể thao trong nhiều năm có thầy Quư và thầy Sum, nhà cũng ở gần sân vận động trong khuôn viên trường. Tôi nhớ giờ thể thao chúng tôi thường thường là sáng thứ tư, được tổ chức tại sân vận động ở phía sau lưng trường, và gần trường sở tạm thời của trường Chu Văn An.Sau mấy cái màn chạy bộ, ném tạ th́ là …đá banh - gọi theo thời nay là bóng đá. Nghĩ lại học đường thời đó cũng có nhiều cái thiếu sót trong môn thể thao. Người ta không thấy những giải thể thao như giải bóng đá chẳng hạn dành cho các trường trung học tranh đua với nhau. Hay là giải bóng bàn. Lúc đó trường nhà đă có tuyển thủ Phạm Gia Anh - nếu đua ra tranh giải toàn quốc th́ đoạt giải là cái chắc. Biết đâu nhờ đó mà trường có thêm quỹ để xây một cái gym nho nhỏ để đầy bàn đánh ping pong cho học tṛ. Cái sân vận động của trường cũng cho chúng tôi nhiều kỹ niệm khó quên.
    Cạnh sân là Tổng Thư Viện Quốc Gia - ở trước cửa là những cây phượng vĩ màu đỏ chói nở rộ vào mùa hè, và nơi đây chúng tôi ưa đến để ôn bài vỡ trước mỗi kỳ thi lục cá nguyệt, hay là theo thói quen đến trường sớm để ăn hàng vặt như bánh ướt chả lụa hay khô ḅ đu đủ, đậu đỏ bánh lọt.Cũng có nhiều đêm điện khu xóm bị cúp, chúng tôi rủ nhau đến khu Tổng Thư Viện v́ ít ra nơi đây cũng có mấy cột đèn đường hăy c̣n cháy sáng. Có đêm tôi nhớ đến đó th́ chỗ dưới cột đèn đă bị một học sinh đàn anh chiếm rồi. Anh này ngồi dựa trên chiếc xe đạp tranh thủ thời gian đọc quyển "Thú chơi sách" của cụ Vương Hồng Sển vừa mới xuất bản.
    Dạy môn Sử Địa th́ có cô Thiên Hương, thầy Lại Nam Long, thầy Phạm Mạnh Cương, cô Sâm, thầy Phỏng.Cô Thiên Hương chúng tôi nhớ bắt học tṛ mua các loại viết ch́ màu để vẽ bản đồ cho dễ coi. Nghe nói hiện cô Hương định cư tại Mỹ.Thầy Long dạy Sử với phương pháp rất mới mẻ v́ thầy ví dụ trận bóng đá vĩ đại để mô tả cuộc chiến chống xâm lăng nhà Nguyên của Trần Hưng Đạo.
    Thầy Phạm Mạnh Cương có lẽ là ông thầy đa dạng đa tài có hạng trong đời học sinh chúng tôi. Lúc đó h́nh như thầy mới nổi với bản Thu Ca và thầy thường đọc cua ngắn gọn cho học tṛ chép về lịch sử các vị vua triều Nguyễn. Tôi nhớ lần đầu tiên tôi nghe đến tên ông Thân Trọng Huề, nhạc phụ của vua Khải Định, qua bài sử của thầy. Tôi vừa mua và vặn cái tape "Những T́nh Khúc Vượt Thời Gian" do Kim Lợi Studio phát hành để nghe lại bản Thu Ca hôm tuần rồi. Bản nhạc thật lắng đọng và lăng mạn làm sao.
    Cô Sâm thường mặc áo dài tím hay nâu sẫm. Cô say mê giảng lịch sử Việt cận đại - nhất là vào giai đoạn chống Pháp 45-50.Thầy Lê Trọng Phỏng có giọng "Bắc Kỳ" rất trong và rơ.Thầy Ngữ h́nh như dạy chúng tôi chừng ba bốn tháng rồi lên đường nhập ngũ ở trường Bộ Binh Thủ Đức.
    Có một điểm tôi hằng thắc mắc thời dó là trường nhà có vẻ hơi cổ kính và bảo thủ. So với Chu Văn An, lúc đó các học bổng như American Field Service - dành cho hoc sinh đệ tứ đệ tam đi Mỹ học một năm rồi trở về học tiếp - rất được phổ biến th́ ở trường nhà ít ai biết đến. Chu Văn An cũng có những giải thưởng đặc biệt như giải hùng biện để đào tạo những người có ước mơ lănh đạo sau nầy, th́ trường nhà tuyệt nhiên không có, ít ra cũng trong những năm đầu thập kỷ 60.
    Các Giám Thị đi coi chừng học sinh ở các hành lang th́ có thầy Hổ (thân sinh bạn Chí Bửu và Chí Minh cùng lớp), thấy Hân (thân sinh một bạn cùng lớp nữa tên là Nguyễn Tấn Lực), và nhiều thầy nữa, với Tổng Giám Thị mấy năm đầu là ông Văn.Nhưng đáng kể nhất là thầy giám thị Tập - c̣n có hỗn danh qua nhiều thế hệ là Pơ Tí Xồi, xuất phát từ tiếng Tây "petite chose" trong một quyển tiểu thuyết Tây nào đó.Thầy Tập đối với học tṛ là một đối tượng chống đối lẫn sợ hăi, bởi v́ thầy thi hành nhiệm vụ rất nghiêm chỉnh đến độ nghiêm khắc không có “chịu chơi” chút nào. Thầy có thói quen là "túm cổ" từ phía đàng sau (chứ từ đàng trước th́ học tṛ đă tránh né hay là dừng chuyện phá phách lại chờ thầy đi qua rồi hăy hay). Không may có một hôm thầy túm cổ một em tên Kỳ đang học lớp đệ ngũ trên chúng tôi một lớp, nhưng ngày trước học chung một lớp tiểu học với tôi, ở trường Bàn Cờ và Phan Đ́nh Phùng. Phụ huynh tṛ Kỳ đưa nội vụ ra Hội Phụ Huynh Học Sinh và kết quả là thầy Tập bị thuyên chuyển sang trường khác, và tṛ Kỳ chuyển sang Chu Văn An.
    C̣n một ông thầy giám thị khác gốc người phía Bắc (tôi không nhớ tên) và thường thường ông trực ở pḥng chung của học sinh ở trên lầu gần cổng ra vào chính và gần pḥng họp của giáo sư. Thầy nầy có lẻ gốc hướng đạo và có rất nhiều ư kiến xây dựng và phát triển trường rất hay. Mỗi lần có dịp đến pḥng chung của học sinh - nơi chúng tôi làm bích báo và tập dượt văn nghệ - chúng tôi ưa ngồi xuống say mê nói chuyện với ông.
    Bệnh xá của trường cũng ở gần đó và qua nhiều năm do một người Y Tá rất dễ mến cũng gốc người Bắc trông nom.
    Học sinh Petrus Kư thời đó c̣n có kỷ niệm nữa là thỉnh thoảng được các thầy cô dẫn đi ra đường Mac-Mahon để đón đưa các vị nguyên thủ các nước láng giềng sang thăm Việt Nam. Nào là Tổng Thống Carlos Garcia của Phi Luật Tân, Tổng Thống Lư Thừa Văn của Đại Hàn, Tổng Thống Ấn Độ có cái tên rất dài nên quên mất rồi, v.v.Đưa đón như vậy rất vui v́ được miễn học cả buổi. Tổng Thống Carlos Garcia theo một anh bạn ban Pháp Văn Petrus Kư ở hàng xóm với tôi tên là Quách Thanh Trung - hiện trong ban giảng huấn trường Lê Hồng Phong về môn Sử Địa - có tướng và khuôn mặt hao hao giống nhà bác học cũng xuất thân từ trường Petrus Kư tên là Nguyễn Đạt Xường.Giáo sư Nguyễn Đạt Xường có năm từ Paris về nước, ghé thăm trường và đứng ở chỗ cổng nh́n ra khắp các lớp học - gần chỗ các lớp chào cờ - nói chuyện và nêu gương tinh thần hiếu học của Petrus Kư với học sinh toàn trường. Tôi chắc là hôm đó tṛ nào cũng mang một hoài băo là sẽ trở thành một Nguyễn Đạt Xường thứ hai. 

Viết đến đây nh́n lên khung h́nh thấy đă đến trang thứ tám. Thật sự tự nhiên tôi mang nợ viết lách vào thân. Định viết chừng hai ba trang cho có lệ nhưng không ngờ viết tới đâu nhớ ra thêm tới đó trong kư ức về trường xưa mến yêu. Làm ít xít ra nhiều là như vậy. Xin tạm dừng bút và xin hẹn lại một dịp khác. 

N.N.

 

 

 

ame> ame> ame>