HỒI ẤY ... NỬA THẾ KỶ TRƯỚC

                                                                            Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ văng
                                                                                            Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu
                                                                                                                    Hoài Khanh

        Hồi ấy ...
    Vào một buổi chiều tháng tám năm 1954,Phước đến nhà rủ tôi đi xem kết quả thi tuyển vào trường Petrus Kư.Hai đứa đi bộ từ đường Lacaze ( nay là Nguyễn Tri Phương),qua ngă sáu ,theo đường Hùng Vương đến trường.Bảng dán kết quả có lưới bao bọc,đặt ở cỏng sau dành cho xe đạp,chỗ pḥng y tế ngày nay.Người xem không nhiều,trước chúng tôi chỉ có vài đứa.Danh sách đậu chỉ có số thứ tự và số kư danh.Phải ḍ từ trên xuống.Đến số 196 tôi thấy số kư danh của ḿnh.Thế là tôi đă đậu rồi.Đến hết bảng,số 400,thêm mười người dự khuyết.Phước đă ḍ hết không thấy số kư danh của ḿnh.Chúng tôi xem lại từ đầu,vẫn không thấy số kư danh của Phước.Phước vỗ vai tôi :" Sơn đậu rồiđó,c̣n ḿnh th́ hổng rồi!"Tôi buồn cho Phước.Học cùng lớp nhất B trường Đỗ Hữu Phương ( nay là Hùng Vương),hai đứa ngồi cạnh nhau,chơi với nhau rất thân,thế mà một đứa bị rớt!Tôi thấy thương Phước quá! Hết lời an ủi bạn.Niềm vui của tôi vơi đi một nửa.Về đến nhà Phước reo lên báo tin cho má tôi biết :"Bác ơi Sơn đậu rồi,c̣n con rớt!"

      Hồi ấy...
    Cổng chính là bảng tên " Trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Kư" với câu đối hai bên bằng chữ Hán                     " Khổng mạng cương thường tu khắc cốt
                            Tây Âu khoa học yếu minh tâm"
    Cổng này chỉ dàng cho giáo viên,quan khách và phụ huynh học sinh.Tôi chỉ có vài lần đi qua cổng này để lên văn pḥng xin Thầy Khiêm " Giấy vào lớp" v́ đi học trể hoặc tŕnh phiếu xin phép màu xanh do ba tôi đến xin phép và kư tên mẫu lần đầu,hôm tôi nghỉ học để tiễn Phương đi Pháp.Hàng rào trước trường có kẻm gai và lớp cây sống óc-ó,lâu lâu phải tỉaKiến trúc trường khi ấy không khác mấy so với bây giờ,gồm hai dăy lầu đối diện nhau.CÁc lớp từ đệ tứ đến đệ nhất ( lớp 9 đến lớp 12 bây giờ) học buổi sáng,các lớp c̣n lại học buổi chiều.Hồi ấy dăy ngang đối diện hành lang danh dự không có lầu,làm pḥng chứa đồ dùng dạy học,pḥng thí nghiệm có bâc lên cao,cũng làm pḥng học nhạc hay các môn chéo buổi,ở góc mặt là pḥng vệ sinh.
    Tượng bán thân nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Kư bằng đồng đen vẫn ở chỗ đặt tượng Lê Hồng Phong ngày nay.Bốn mảnh sân giữa hai dăy lớp học trồng cỏ viền cây xanh theo lối đi.Bốn cây cau bụng cao chót vót ở giữa bốn mảnh sân,dưới gốc có trồng cây kiểng bao quanh.Sân trường rất nắng.Ở giữa mỗi dăy lớp là một hộp gỗ khổ 60 x 100 cm có lưới bao,dùng dán thông báo,c̣n ở phía ngoài giữa hai bâc tam cấp  là một cái chum màu xanh dương đựng nước trà nóng với một cái lon sữa ḅ tra cán dài,để học sinh uống lúc khát,Cột cờ ở giữa dăy ngang,xéo góc;phía bên dưới có sẵn cây sào dài,pḥng khi lá cờ phất ngang,không bay th́ dùng cây sào ấy mà sửa lại.
    Cổng phụ gồm hai cánh cửa gỗ,chỉ mở ra vào giờ vô lớp và giờ ra về,dành cho người đi xe đạp và một cử nhỏ bên cạnh cho người đi bộ.Ở cổng này dưới gốc cây thường treo một bảng đen viết phấn trắng ghi tên giáo viên vắng mặt.Bọn tôi khi đến trường,thường hay chiếu cố đến bảng này.
    Nhà để xe đạp (thời ấy,chúng tôi chỉ đi xe đạp,hiếm người có được chiếc mobylette hoặc chiếc velo solex) nằm phía bên trái ( chỗ nhà thi đấu TDTT ngày nay) gồm đến tám dăy.Mỗi dăy nhà lợp bằng ngói móc xi măng màu đỏ.Nhà để xe gồm những cây gỗ dài khoét những lỗ để bánh xe vào.Mỗi nhà xe như thế có bảng tên lớp.Có năm xe đông,học sinh để tràn ra bên ngoài.
    Thời chúng tôi học , có cửa thông qua sân vận động nhưng sau khi lực lượng công an xung phong của B́nh xuyên bị dẹp,cửa này được rào bít lại.Đi tập thẻ dục phải vô phía đường Trần B́nh Trọng.Phạm vi trường Petrus Kư như vậy,gồm hai khu vực: khu lớp học và khu tập thể dục,không kể khu nhà giáo viên nằm trên đường Trần Phú và cạnh sân vận động ngày nay.
    Sân vận động hồi ấy rộng lắm,bao gồm cả hồ bơi quận 5.Sân có đường băng ṿng quanh,có hố nhảy cao,nhảy xa,giàn treo dây thừng để leo,thang nghiêng,barre fixe,barre parallele ( xà đơn,xà kép    ).
    Đến khi tôi xong tú tài,rời trường th́ khu trường Petrus Kư chỉ có phạm vi như thế.Cantine và khu thực nghiệm là băi đất trống,hội trường là Tổng Thư viện.

    Hồi ấy ...
    Cũng như bây giờ,mỗi dăy lớp gồm 12 pḥng học: sáu trên lầu và sáu tầng trệt.Lớp đệ thất,đệ tư1 ( lốp,lớp 9 ) học trên lầu;lớp đệ lục,đệ ngũ học từng trệt.Năm 1954,có 9 lớp đệ thất từ A đến I.Các lớp này sinh ngữ Pháp là bắt buộc,c̣n sinh ngữ 2 th́ học tiếng Anh hoặc chữ Hán.Ba lớp cuối (G,H,I) th́ học chữ Hán ,do ông Ưng Thiều hoặc ông Trần Cảnh Hảo dạy.( thời ấy chúng tôi gọi các giáo sư nam là ông,c̣n các giáo sư nữ là bà hoặc cô tùy tuổi tác)
    Năm 1954,ở lớp đệ thất,mỗi buổi chúng tôi chỉ học có 2 hoặc 4 giờ.thường từ 7-9 giờ hoặc 9-11 giờ hợac 11-13 giờ.Phải rút giờ học v́ buổi chiều ,trường phải dành lớp cho học sinh Chu Văn An từ Bắc di cư vào.Học ít giờ nhưng cũng đủ các môn.
    Giờ học nhạc chúng tôi phải sang pḥng khác như pḥng y tế hiện nay,hay đến khu pḥng thí nghiệm để tránh ồn ào,ảnh hưởng đến các lớp bên cạnh.Giờ vẽ học trên lớp;gờ thể dục ra sân vận động( thường học chéo buổi).Giờ thể dục một nửa thời gian thầy hướng dẫn chúng tôi những động tác nhẹ nhàng theo tiếng c̣i và theo thầy làm mẫu;nửa thời gian c̣n lại,được tự do : leo thang,leo dây,hít barre fixe nhưng thích nhất và lôi cuốn được nhiều nhười nhât là chia phe đá banh.
    Lớp D những năm ấy có khoảng trên 45 học sinh và được giữ tên lớp đến nă, đệ tứ.Có một số lớp Hán văn,về sau phải giải thể,nhập vào các lớp khác,chỉ có giờ Hán văn họ mới gom thành một lớp riêng.Học sinh trong lớp một cách tự nhiên ,chia thành hai nhóm:số nhỏ con và nhỏ tuổi chơi chung,c̣n lại là các anh lớn.
    Giờ chơi tất cả đều ra khỏi kớp,đứng sát lan can,dành chỗ phía trong thầy cô đi lại;và giờ vào lớp phải sắp hàng ngay ngắn,chờ thầy cô đr61n,so hàng mới được phép vào lớp.Lớp không có thầy cô ,phải đứng chờ.Thành ra từ hành lang giữa ông Giám học có thể quan sát để biết thầy cô nào đi trễ hoặc nghỉ dạy.Nếu chờ 15 phút mà không thấy thầy cô,lớp trưởng phải lên văn pḥng hỏi,được phép mới được ra về nếu vào những giờ cuối buổi,hoặc được giám thị cho vào lớp rồi ngồi trông chừng.Nếu thầy cô vắng hai giờ th́ được ra ngoài trường,chờ các giờ học sau.
    Mỗi buổi học,trước khi vào lớp độ nửa giờ,cổng sau được mở ra cho người đi xe đạp đưa xe vào để ở khu vực lớp ḿnh,rồi ra sắp hàng cùng các bạn đi bộ.Khi các lớp đă ổn định hàng ngũ,mới được tuần tự lên lớp.Giờ về cũng vậy,phải sắp hàng ,đến cổng bên hông mới tản hàng,lấy xe đạp và chờ đến khi phía ngoài đường,người bảo vệ chận xe lại với tiếng c̣i vang lên,mọi người mới được tuôn ra đường.
    Lớp học trên lầu thường vào trước rồi mới đến các lớp từng trệt.Lớp di chuyển theo môt chiều nhất định:lên một cầu thang và xuống cầu thang khác,nối theo sau các lớo từng trệt.Lên văn pḥng cũng phải theo chiều quy định.Tất cả đều trở thành nền nếp.
    Lớp đệ lục,đệ ngũ chúng tôi học buổi chiều;lớp đệ tứ học sáng.Danh sách giáo ciên tôi chép lại như sau theo Thông tín bạ Trung học đệ nhất cấp

Môn Đệ thất Đệ lục Đệ ngũ Đệ tứ
Luậnlư-côngdân     Trần văn Quan  
Quốc văn Bùi trọng Chương Trần văn Quan Trần văn Quan Nguyễn Thị Sâm
Anh văn Ng.Hoàng Sang Đinh Xuân Thọ  Ông Thái Trần Hữu Tắc
Pháp văn Phạm văn Sửu Ông Ba Thẩm Túc Phạm văn Thới
Sử ,Địa Nguyễn Thị Sâm Lâm Thị Dung Lâm Thị Dung Lâm Thị Dung
Toán Dương Dạn Ḥa Dương Dạn Ḥa Trần Kiệt Nguyễn Thạch
Lư Hóa Vạn Vật Ông Thái Trần Huệ TRần Thượng Thủ Trần Huệ
Vẽ Trương Đ́nh Ư Trương Đ́nh Ư Trương Đ́nh Ư Trương đ́nh Ư
Nhạc Marcel     Ông Hiển
Thể Thao Tạ ngọc Quí Tạ Ngọc Quí Nguyễn Văn Giỏi Ông Chất
Năm học Hiệu Trưởng Giám thị Lớp trưởng Sĩ số
1954-1955 Phạm Văn C̣n Ưng Đồ   47
1955-1956 Nguyễn Văn Kính Ông Phấn Phạm Hữu Ân 48
1956-1957 Nguyễn Văn Thơ Ông Xán Phạm Hữu Ân 53
1957-1958 Nguyễn Văn Thơ Ông Phấn Nguyễn Tiến Măo 53

Hồi ấy...

Các thầy cô ( chúng tôi thường gọi là ông, bà, cô ) giáo sư ( trước ngày giải phóng , từ " giáo viên " để chỉ người dạy bậc tiểu học, c̣n trung học đệ nhất cấp, đệ nhị cấp trở lên đến đại học th́ gọi là " giáo sư " ) giảng dạy , chúng tôi thường kính sợ hơn là cảm mến . Có lẽ hồi ấy, chúng tôi c̣n " con nít, đi chỗ khác chơi ! " chăng ? Và thầy cô chúng tôi cần " kính nhi viễn chi " chăng ? Dù sao , đến bây giờ mỗi lần gặp lại các bạn cùng lớp năm xưa ( hiện ở Việt Nam c̣n độ bảy tám người ) thường nhắc thầy Bùi Trọng Chương với bài chính tả " Tôi đi học " của Thanh Tịnh mà những người bạn quen giọng nam như tôi viết sai   "  " " những đám mây bàng bạc " thành " những đám mây vàng bạc ". Bài văn hay như một bài thơ. Rồi bài " Nhành lúa mới " ( trích báo  " Tin tức ") nữa : " Tôi đến một miền quê, kề bên một trận địa vào một buổi chiều hoe nắng . Ở đây cánh đồng loáng nước nằm dài , vắng bóng người nông phu cần mẫn. Nh́n vào thôn xóm, không một bóng người ,khóm tre xơ xác , mái tranh im ĺm. Qua một đêm ngủ đỗ, sáng hôm sau tôi trở dậy lên đường . Trong ánh nắng ban mai, đố ai biết có ǵ đổi khác ? Nh́n vào thôn xóm , vẫn không một bóng người , khóm tre xơ xác , mái tranh im ĺm , nhung cánh đồng loáng nước chiều qua đă xanh ŕ ngọn mạ . Tôi bỗng nhớ đến ánh trăng đêm trước , đến những đoàn người lũ lượt trở về đây. Trong lúc bom đạn vẫn gieo rắc tang tóc và đổ nát th́ nơi đây, người dân quê thản nhiên gieo nguồn sống . Nhành lúa mới như một tuổi xuân vùng trỗi dậy tượng trưng cho sức sống oanh liệt của cả một dân tộc " . Bài này , đến nay tôi vẫn c̣n nhớ măi.
Ông Chương gầy yếu, má hóp, nước da trắng , giọng nói rơ ràng, sang sảng.
   
Ông Sửu dạy Pháp văn . Vào lớp cho cả lớp ngồi xuống rồi, ông vẫn đứng , nói những câu tiếng Pháp chúng tôi nghe không rơ, rồi lấy từng cuốn tập , cuốn sách trong cặp , ném mạnh lên bàn làm cả lớp đều sợ,
   
Tôi kém môn toán , nên rất ngán giờ học ông Ḥa. Tụi tôi thường vái ổng bịnh nghỉ hay v́ một sự cố nào đó mà không đến lớp . Năm đệ thất, ông mang mắt kiếng găy mất một gọng suốt mấy tháng (!) giảng bài ông hay nói " hả " đầu câu . Một giờ chúng tôi đếm năm sáu chục tiếng . Đếm rồi che miệng cười ! Vui nhất và đáng nhớ nhất là hôm lính của ông Diệm đánh nhau với B́nh Xuyên vào tháng tư năm 1954
   
Ông Thái , các bạn đặt tên là " Lí Ngạnh " ( nhân vật trong truyện " Trê Cóc " ) . Vào lớp mặt ông lúc nào cũng đỏ bừng v́ thường hay uống bia ở góc đường Nguyễn Thiện Thuật. Tóc th́ chải phùng và tém về phía sau , láng bóng , " con ruồi đậu phải chống gậy, sợ té ! " . Cặp kiếng cận rất dày , móng hai ngón tay út thường sơn đỏ. Tụi tôi thường cười vui khi nhắc đến ông . 
   
Sợ nhất là ông Marcel với bà Dung . Ông Marcel chỉ dạy chúng tôi lớp đệ nhất nhưng thường sợ v́ ông hay cho consigne ( cấm túc 0 là nửa cấm túc, 00 một cấm túc ). Cấm túc là phải đến trường ngày Chúa nhật để làm bài không làm, học lại bài không thuộc . Nửa cấm túc là hai giờ ; một cấm túc là bốn giờ. Ngày cấm túc có giám thị trông chừng và tùy theo lệnh phạt ghi trong giấy - có chữ kư của cha mẹ , mà kiểm tra lại bài học hay bài làm . Hết giờ, ông giám thị cho về, giữ giấy phạt tŕnh cho Ban giám hiệu. Không phải ai bị cấm túc cũng phải đến trường ngay ngày chúa nhật liền kề, mà có khi phải chờ đến ba bốn tuần để số lượng học sinh các lớp được đông , đỡ mất công một người giám thị. Thành ra , ngày cấm túc có những học sinh ở các lớp khác nhau về các " tội danh " khác nhau. Học sinh bị cấm túc đều bị ghi tên vào " sổ b́a đen " ! Bài hát ông Marcel dạy chúng tôi c̣n nhớ là bài " Chim chích cḥe " của Đức Quỳnh và " Trường làng tôi " của Phạm Trọng.
   
Chúng tôi học Sử Địa do bà Dung ( các bạn gọi là Má Run - v́ sợ ) dạy suốt ba năm liền . Bà rất nghiêm. Sách Lịch sử của Phan Xuân Ḥa ; sách Địa lư hầu như chúng tôi phải tự soạn lấy theo dàn bài bà đă cho ( chép lên bảng ). Đến đệ tứ mới có sách của Nguyễn Văn Mùi. Môn Địa lư , bất cứ bài nào cũng phải vẽ bản đồ. Khi vào lớp , bà cho một bạn xuống pḥng thiết bị mượn bản đồ đă đóng khung , treo lên bảng rồi dựa vào dàn bài , dựa vào bản đồ mà giảng . Khi trả bài cũ, học sinh phải theo bản đồ mà nói . Chỉ tên sông từ biển chỉ vào , chỉ tên dăy núi mà chỉ một điểm th́ bị " không điểm " ngay . Hồi ấy, ít người có được cuốn Atlas . Tôi được cái may là có sách này , nên sau buổi học chiều thứ tư, tối lại tôi vẽ ngay bản đồ bài học ( địa danh nào có trong bài học , phải có trong bản đồ ) để ngày mai cho các bạn mượn vẽ lại và chuyển đi đến gần một nửa lớp . Bản đồ tôi vẽ " luân lưu "  đến mấy hôm sau mới được hoàn trả.
   
Suốt ba năm học , chỉ thấy bà Dung cười một lần . Đó là hôm Nguyễn Tấn Phát trả bài " Chiến thắng trên sông Bạch Đằng " : " Sau khi quân Nguyên lọt vào băi cọc trên sông Bạch Đằng , thuyền bị cọc nhọn đâm thủng chết rất nhiều ..." .Bà Dung hỏi : " Rồi sao nữa ? " Phát ngập ngừng , lúng túng nói bừa : " C̣n một số chạy lên bờ .. . đốt lửa sưởi ? Đó là lần duy nhất cả lớp được dịp cười thoải mái .
   
Ông Ba dạy Pháp văn ( sách " France " ) lớp đệ lục . Ông mập mạp , dáng nặng nề , thường mặc áo bốn túi , giày không vớ . Giờ học thường vang tiếng cười bởi ông hay nói tục ( nói lái hoặc hàm ẩn ). Bài học , sau khi đọc , giảng nghĩa vocabulaire, grammaire ( từ vựng, ngữ pháp) , ông cho một số người đọc lại . Giờ sau , viết chính tả (dictée) :
   
Ông xướng một câu bằng tiếng Việt , rồi gọi người đọc to bằng tiếng Pháp ( đă học trong bài, giờ trước ) cho cả lớp viết . Cứ thế ,đến hết bài . Ông thường gọi theo tuần tự hết người này đến người khác trong bàn và hết dăy này đến dăy khác , thành ra, ai cũng biết câu nào là câu của ḿnh phải đọc, nên nhẩm trước , học trước . Những bài ám đọc ( récitation ) ở cuối sách , rất dài, chúng tôi phải học thuộc , lên trả. Chỉ có Nguyễn Thanh Nhàn là bị cà lăm nên được phép lên bàn thầy chép lại bài, không phải đọc.
   
 Giờ chính tả, dictée, ông Chương và ông Ba cho chúng tôi đổi tập trong bàn để bắt lỗi của bạn , rồi trả tập lại , chờ thầy xướng tên theo sổ , nói điểm để thầy ghi. Ông Quan th́ cho đổi tập theo bàn : bàn trên đưa xuống bàn dưới , bàn cuối đưa lên bàn đầu. Người bắt lỗi nói số lỗi của bạn để thầy chuyển thành điểm ghi vô sổ. Ngoài số lỗi về từ ( 1 lỗi ) , dấu ( nửa lỗi ) c̣n bắt luôn cả dấu gạch nối ( 1/4 lỗi ). Thí dụ : đám tang ( mà viết tan ) ; suy nghĩ ( nghỉ) ; dễ- dàng ( dễ dàng ). Lỗi giống nhau th́ tính một lần. Điểm số cho đến 20, mà trong sổ , thường có điểm 1/2, như 13 1/2,  8 1/2. Vào lớp , khi ghi sổ đầu bài ,ông thường nói to : " Cho mượn cây thước coi ! " . Đứa nào ngồi ở bàn đầu th́ đem thước lên . Ông Quan được các bạn đặt tên là " Ông già râu kẽm" v́ phía trên miệng có một hàng ria . Ông cho lớp dùng cuốn " Thi nhân Việt Nam " của Nguyễn Văn Cổn, nxb Minh Tân ( Paris) . Ở đệ thất ,đệ lục th́ dùng sách " Việt văn diễn giảng " của Nguyễn Văn Hiếu , gồm phần Kim văn và phần Cổ văn.
   
Ông Trần Thượng Thủ ( kư tên là T3 : " T tam thừa " ) người thấp , mập , đầu láng bóng loe hoe mấy sợi tóc , thường mặc áo kaki bốn túi, mang dép Nhật với cái túi dết bằng vải xanh . Vào lớp , việc đầu tiên của ông là lấy khăn mouchoir lau một ṿng quanh đầu . V́ mập nên cuối năm đệ tứ , có bạn xin chụp ảnh , ông nói : " Đem về nhà, người ta thấy h́nh nói tôi là Ông Địa à ! " . Ông cũng không cho gọi ḿnh là "Thấy Thủ " v́ nói lái là " thù thẩy "   tức là thù ông ấy . Tính ông kỹ lưỡng , tính toán rất nhanh. Lên bảng, gặp bài toán chia , hễ ai định sắp số để chia là không được , phải ước lược cho đến c̣n lại số nhỏ nhất mới làm bài toán chia. Nhân từ hai số trở lên th́ phải cộng số giữ luôn, như 38 x7 = ( bảy lần tám : năm sáu : viết sáu, giữ năm . Bảy lần ba = hăm sáu). Sách hoá học th́ dùng của tác giả Phạm Văn Hường ( nxb Tân Việt ).Dạy Lư Hóa , ông hay lấy ví dụ từ món ăn như nước đá nhận, bánh bèo.
   
Năm đệ tứ , học Pháp văn với ông Thới , có hôm theo thời khóa biểu , phải học ba giờ liền , cho nên giờ học rất căng thẳng . Ông Thới nghiêm trang, khó tánh nên đứa nào cũng ngán. Dáng người ông thấp nhỏ, hơi gầy , mang kiếng cận thị, hút thuốc Bastos xanh , liên tục , hết điếu này đến điếu khác , c̣n môt phần ba điếu trên môi, ông đă mồi thêm điếu khác . Nhiều hôm , trong ǵơ chơi , ông đến bên cửa sổ ăn khúc bánh ḿ , nuốt vội vàng khi tiếng chuông reo vào giờ học . Vậy mà có người đủng đỉnh , chậm chạp vào lớp , ông bực ḿnh , cáu gắt : "Giờ này ,vous mới vô ! ". Ông hay mắng : " Vous êtes bête mon ami! "
hay " Êtes -vous fou ? " Giờ grammaire, analyse grammatical, ông hay cố t́nh nhắc sai, như " nom commun mas..." nếu nói " masculin " là đă sa vào bẫy v́ đó là " nom féminnin ". Đến một từ là " adverbe de ma.." nếu nói theo " manière " th́ ông đă nói chận ..." de ma-da ". Dường như đứa nào trong lớp cũng được ông đặt cho một " bí danh " . " Long (là Cẳng ) ; Viên ( là Pháo ) ; Măo ( là Nón ) ; Kháng ( là Gérondif ) - v́ một verbe ở participe présent , có fonction là gérondif (?). Mỗi lần gặp một từ  như thế là ông gọi Kháng để analyse, Gặp ( là Algérie), Bá ( là Hà ), Kha ( Bớt), Thuận ( Bến Tre) . C̣n tôi - Sơn , ông đặt tên là   "Bịnh". Số là hôm ấy vừa vào lớp một lúc , tôi bỗng thấy trước mặt tối sầm, mồ hôi vả ra như tắm . Tôi gượng không được , gục xuống bàn . Có vài bạn trông thấy , nói to : " Thưa thầy, bạn Sơn xỉu " . Anh Măo - liên đội trưởng ( lớp trưởng ) ở một bàn gần cuối đứng lên , xin phép thầy cơng tôi xuống bịnh xá. Anh phải đi từ trên lầu xuống hết cầu thang , băng qua khoảng sân để đến một pḥng nhỏ ở dăy lớp bên kia . Bịnh xá do ông Thâu ( ba của cô Sâm ) phụ trách . Anh Măo đỡ tôi nằm xuống giường , nói qua bịnh t́nh . Ông Thâu xoa dầu , cho uống thuốc . Giờ chơi , các bạn kéo xuống thăm rất đông . Ai cũng khuyên tôi nằm nghỉ, hết giờ ông Thới hăy lên v́ ông đang truy bài . Thế là từ ấy ông đặt tên tôi là " Bịnh ". Ông thường gọi chúng tôi là " âm binh " và ai lưu ban là " cựu chiến binh " . Ông Thới biết rất nhiều vocabulaire, chỉ có điều ông quên genre masculin hay féminin. Giờ làm văn tiếng Pháp ( thường cho về nhà ), ví dụ như " tả một tiệm tạp hóa ", ông cho cả lớp hỏi những từ ngữ dùng trong việc miêu tả thuộc đề này ( hỏi từ tiếng Việt, ông trả lời từ ngữ tiếng Pháp ). Sách học của chúng tôi là " Les auteurs du nouveau programme".
   
Sách tiếng Anh dùng cho bậc đệ nhất cấp là bộ  " L'Anglais vivant " gồm hai cuốn . Bộ này do tác giả người Pháp Carpentier Fialip soạn để dạy cho học sinh Việt Nam. Nó chéo ngoe, như năm đệ nhất ( lớp 12 ) chúng tôi học " La vie en Amérique " do một tác giả người Đức soạn cho học sinh Pháp đem dạy cho người Việt !
Tiếng Anh hồi ấy thường học theo lối " nghe, đọc, viết " chứ không có nói . Điều này rất cần thiết để đi thi .
  
Ở lớp đê ngủ , ông Thái dạy Anh văn , ngoài việc giải nghĩa từ tiếng Anh sang tiếng Việt , dạy văn phạm ... ông c̣n bắt chúng tôi soạn bài : chia trang giấy tập thành ba cột : một cột chép lại bài trong sách ; cột giữa là phiên âm ; cột cuối là dịch sang tiếng Việt . Ông yêu cầu học một từ mới ( in đậm trong bài ) th́ phải viết lại vài ba chục lần cho quen mặt chữ . Tôi đă quen cách học này khi học chữ Hán ở Đại học Văn Khoa .
  
Ông Ư dạy vẽ suốt bốn năm liền .Ông cao , rất gầy , nước da trắng , mang kiếng cận thị, hay mặc áo bốn túi , mang sandal, tay ôm cặp , đầu đội nón cối . Vào lớp, ông không nói nhiều , chỉ giảng qua về luật phối cảnh , luật viễn cận, trên tầm mắt, ngang hoặc dưới tầm mắt , rồi để vật mẫu cho chúng tôi vẽ . Hai năm đầu , vẽ đồ vật : hộp phấn , chiếc cặp, cái nón ( úp và để ngửa ), chiếc giày ..., sau đó mới tập đánh bóng,xem ánh sáng rọi vào chỗ nào để tính độ đậm nhạt; rồi vẽ tĩnh vật , cảnh vật , kẽ chữ. Ở các năm sau , ông cho vẽ trang trí , làm bảng sắc độ. Ông bảo anh lớp trưởng mua ba bịch bột màu vàng, xanh dương , đỏ rồi chia ra cho mỗi người thành ba gói nhỏ để mọi người dùng keo nước , pha ra thành những màu chính và màu phụ : xanh lá, chàm , nâu ,cam .... và khuôn thành một bảng sắc độ mấy chục màu. Ông không cho dùng màu nước pha sẵn . Giờ vẽ, cả lớpp phải dùng bút ch́ , không được dùng tẩy.Vẽ h́nh thứ nhất , thấy sai chỗ nào th́ đánh dấu để vẽ sang h́nh thứ hai ...cứ thế , cho đến khi hoàn chỉnh  ( thường là chín, mười lần ). C̣n độ 15 phút hết giờ, ông gọi mấy người đem tập vẽ lên để ông chấm điểm .Ít có người được đến 13,14 điểm , thường từ 8 đến 12. Giờ vẽ rất yên tĩnh . Ông làm ǵ đó , không rơ . Đôi khi ông dùng dao gọt tỉa lại những mẫu vật đă điêu khắc bằng đất sét .
  
Có một ông giám thị , không rơ phụ trách lớp nào , trước giờ vào học , hay ra đứng dưới gốc cây cạnh cái bảng ghi tên giáo viên vắng . Người ông mập , đeo kiếng đen , mặc áo bốn túi , vẻ mặt khinh khỉnh . Có bạn nói ông tên Tập và gọi là " Le cahier " hay " Petit Sồi " ( Petit Chose ) v́ ông hay kể về nhân vật này . Chúng tôi không ưa ông bởi cái vẻ hách dịch , nạt nộ của ông .

Petrus Kư là trường con trai nhưng hồi ấy , thấy có năm , sáu chị học lớp " philo " v́ bên Gia Long không có lớp (?). Cũng là v́ trường nam nên thế mạnh là thể thao . Nhiều người đă đem những chiếc cúp về cho trường .Phong trào văn nghệ , mỗi năm tổ chức vài lần , ở dưới sân , phía cột cờ . Nhiều năm cũng không có . Những vở kịch , vai nữ do các anh hóa trang , điệu bộ ẻo lả, trông thật ngộ nghĩnh, tức cười.Đêm văn nghệ cuối năm đệ tứ , tôi c̣n nhớ măi âm vang bài " T́nh đêm liên hoan " của Hoàng Thi Thơ xoáy vào tâm tư của ḿnh : " Vui một đêm nay rồi mai lên đường . Vui buồn ai hay, sầu thương khôn lường ..."

                                  " Bạn bè lớp trước nay c̣n mấy
                               ( Nguyễn Khuyến )

Hồi ấy ....

Chúng tôi thật bỡ ngỡ khi vào trường trung học . Cái ǵ cũng mới lạ : mỗi môn một thầy dạy , điểm số cho đến 20 ... Trong lớp , anh Ân, anh Măo là những lớp trưởng , vừa lớn tuổi ,lớn người lại học giỏi . Anh Ân rất giỏi Quốc văn . Bài làm văn nào của anh cũng được ông Quan khen và gọi lên đọc to cho cả lớp nghe " để bắt chước " . Tôi c̣n nhớ bài luận " tả tiệm bán bánh trung thu " của anh . Anh cũng được thầy nhờ chép bài lên bảng cho cả lớp chép theo . Lần nào cũng vậy , khi ở cuối lớp đi lên , tụi tôi nói với anh : " chép chậm chậm nghe !" Ai cũng muốn " câu giờ ! "  Giờ học thường dài nên thầy dạy, chúng tôi học, rất thong thả . Ngồi trong lớp , có khi c̣n chuyền giấy rủ nhau đi chơi hay đi đá banh . Có mấy anh giỏi đá banh ( như anh Hải ) hay giỏi điền kinh như anh Chánh ( ném tạ, chạy xa, nhảy cao anh đều giỏi ). Lớp tôi có Đàm Quang Chí , nhà ở Bàn Cờ , học đệ thất ở trường Hồ Ngọc Cẩn ( Gia Định )nên trường cho hoán chuyển với Bùi Văn Nữa, ở Gia Định . Chí nhu ḿ , ít nói . Cuối năm đệ tứ , Chi đậu ưu bằng trung học đệ nhất cấp . H́nh như đó là học sinh duy nhất đậu cao , ở Saigon.Kháng và Khanh là anh em ruột . Hồi học lớp nh́, tôi học chung với Nguyễn Tích Phước , hỏi ra là anh họ của hai người . Nhà Khanh và nhà Kháng rất xa, gần cuối đường Nguyễn Trăi trong Chợ Lớn và họ chở nhau bằng xe đạp. Anh Khanh chở Kháng ngồi trên ống tube xe đạp đàn ông , gần tới trường , anh mới ngừng xe cho Kháng xuống đi bộ. Cả hai người rất giỏi về nhạc . Anh Khanh chơi guitare, c̣n Kháng th́ mandoline. Mấy đầu ngón tay trái của Kháng dều chai cứng . C̣n nhớ, năm đệ ngũ, chúng tôi ( độ 5,6 người ) tập hợp lại , ra môt tờ báo viết tay đặt tên là " Lạc Long " . Tờ báo này được h́nh thành trên lầu nhà Khanh -Kháng . Từ năm đệ tứ , tụi tôi c̣n lập nhóm sáng tác thơ đăng trên báo " Tiếg chuông " của ông Đinh Văn Khai,chủ nhiệm và là Hội trưởng Hội PHHS của trường. Lớp tôi có hai bạn mang tên các nhân vật lịch sử Việt Nam : Trần Quốc Toản , Nguyễn Tri Phương , đều học khá.

Lớp tôi, ngoài các bạn nhà ở Saigon - Chợ Lớn - Gia Định , c̣n các bạn ở tỉnh khác thi vô như Danh , Tiên , Vĩnh ...ở G̣ Công : Thuận ở Bến Tre, Phùng ở Long An... Và trong lớp , các bạn nhỏ chơi với nhau . Tôi là một trong số những người biết nhà của bạn nhiều nhất và nhiều lần đến chơi như  nhà của Khanh -Kháng , Viên, Danh , Măo, Toản, Phát Quan, Châu, Chí , Kha, Minh, Ṭng , Trường ... Năm đệ ngũ , đệ tứ , ba tôi dời nhà về Cần Giuộc , tôi phải ở trọ nhà anh Sáng trên Phú Nhuận .Nhà ở Cần Giuộc, hầu hết các bạn đều có xuống chơi trong những ngày hè , ngày Chúa nhật . Trong các bạn cùng lớp , tôi chơi thân với Viên, Kháng, nhất là Danh . Cuối năm đệ ngũ , bốn đứa rủ nhau chụp chung một tấm ảnh ở photo " Đoàn Hùng", góc đường Cao Thắng- Nguyễn Đ́nh Chiểu , cạnh photo " Ái Mỹ "/

 Hồi ấy , ai ở nhà xa th́ đi học bằng xe đạp, gần th́ đi bộ. Không ai có xe gắn máy cả . Trời nắng th́ đội nón chứ không đội kết như bây giờ. Quần áo th́ lôi thôi : áo tay ngắn, tay dài đều được , miễn là màu trắng hoặc xám ; quần th́ đủ màu và đủ cỡ ( quần dài hoặc quần sọt). Năm đệ ngũ ( 1957) , chúng tôi mới có phù hiệu bằng thiếc , phía trên tên trường Petrus Kư màu đỏ trên nền vàng ; phía dưới là h́nh bản đồ Việt Nam có cuộn giấy và hai cây bút bắt chéo với ruban nơ đỏ : tất cả nằm trên màu xanh dương . Phía dưới cùng ôm ṿng theo phù hiệu là hàng chữ " Hiệu đoàn trung học ". Về các phù hiệu này , chúng tôi được nghe mấy thầy dạy thể dục nói là trường Gia Long lấy biểu tượng bông mai vàng c̣n trường ḿnh định lấy h́nh con ong, tượng trưng cho sự cần cù , siêng năng , chăm chỉ nhưng bị phía bên Gia Long phản đối quá nên mới thay bằng biểu tượng này . Hồi ấy , được mang phù hiệu đi học là niềm hănh diện của chúng tôi. Đến năm đệ tam ( 1958), thời ông Trương làm hiệu trưởng ,đồng phục của học sinh được quy định chặt chẽ. Đi học thường ngày phải mặc quần tây dài màu xanh ; áo trắng ngắn tay. Ngày lễ và mỗi thứ hai chào cờ phải mặc áo trắng tay dài , quần tây trắng , giày bố trắng và phải đội bêrê có chữ PK móc vào nhau giữa hai nhành dương liễu. Phù hiệu cũng thống nhất theo h́nh dáng chung của Bộ quy định , không c̣n nhiều đường cong uốn lượn như kiểu cũ . Nền chung là màu xanh lá, chữ " Hiệu đoàn " màu đỏ. Biểu tượng bản đồ màu vàng , đôi bút , cuộn giấy và băng hồng giữ như trước ; phía dưới là hàng chữ "Petrus Trương Vĩnh Kư ". Lúc này , ngoài phù hiệu bằng thiếc ghim vào áo , học sinh c̣n phải may phù hiệu bằng vải lên miệng túi áo :                              

HIỆU ĐOÀN

P- TRƯƠNG VĨNH KƯ

SAIGON

 Viết về trường lớp cũ , thầy bạn xưa , chúng tôi không mong mỏi ǵ hơn được cùng bạn bè trang lứa thuộc thế hệ 1954-1961, nhất là các bạn từ Thất D đến Tứ D năm xưa , sống lại thời niên thiếu nhiều ấn tượng , rất hồn nhiên của tuổi học tṛ . Và cũng nhân đây, xin mượn mấy câu thơ của Hàn Mặc Tử gởi đến các bạn :

" Rồi có khi nào trong phút giây
Trăng lên khỏi núi , gió đùa mây
Th́ anh nên nhớ , người năm nọ
Xưa đă cùng anh sống những ngày ....

 Tháng 11/2003
Nguyễn Viết Sơn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ame> ame> ame>