Ngày thứ năm 1955
Ngày thứ năm 28-4-1955.vào lúc 12g15 ,lớp
đệ thất D của chúng tôi đang học giờ tóan của Thầy Dương Dạn Hòa tại một phòng
học trên lầu dãy bên mặt nhìn từ cổng chính,bỗng nghe nhiều lọat súng bắn từ bên
đường Nguyễn Hòang ( nay là Trần Phú) vào trường.Tiếng nổ của lọai đạn đum
đum.khi chạm vào mục tiêu,lại nổ thêm một lần nữa,nghe chát chúa,đinh tai,khiến
cho cả lớp bò lăn bò càng trên nền gạch.Hầu hết ngồi sụp xuống bàn học,sợ đạn bay
qua cửa sổ vào trúng mình.Cũng có người đùn đẩy,đè lên nhau và đứa nào nằm dưới
được coi là an tòan nhất,kín đáo nhất.
Tuy sợ nhưng mà vui,vì ngó lên bàn,thấy thầy Hòa đang khiếp
hải quýnh quáng tìm chỗ núp.Thầy bò trên nền lớp học,muốn chui vào gầm bàn nhưng
vì bàn thấp nên thầy sàng qua sàng lại hòai và đành ngồi núp sau bàn viết và ghế
ngồi trên bục.Một lúc im tiếng súng,chúng tôi ngồi lại trên bàn học rồi,mà thầy
Hòa vẫn còn núp,khiến cả lớp cười ồ.Bẽn lẽn thầy chui ra ngòai,đứng lên sửa lại
gọng kiếng,phủi quần áo dính bụi,hỏi nhỏ " Hết chưa vậy ?" Thầy Hòa đi dạy lúc
nào cũng mặt complet trắng hoặc màu mỡ gà,thắt cà vạt.Lợi dụng sự sợ hãi của
thầy,Trần Văn Chút,đẹp trai nhưng học dở ở lớp 7D chúng tôi,gõ ngón tay vào hộc
bàn,nhại tiếng súng nỗ,đạn bay,lại la to : "Đó thầy,đó thầy!" khiến thầy Hòa hết
hồn,dớn dác định chui vào chỗ cũ,làm cả lớp cười bể bụng!
Số là,vào lúc đó,chành quyền Ngô Đình Diệm,sau khi truất phế
Bảo Đại,ổn định nội bộ,được Mỹ hỗ trợ,ra tay đàn áp các giáo phái Cao Đài(Phạm
Công Tắc),Hòa Hảo (Hùynh Phú Sổ) và các sứ quân Bảy Viễn,Năm Lửa,Ba Cụt,...vốn
thân Pháp,thân Bảo Đại.
Phía sau trường Petrus Ký,gần sân vận động,có một đơn vị công
an xung phong Bình Xuyên đóng và lập chốt canh gác tại cổng phụ,nơi chúng tôi ra
vào.Lúc 11 giờ ngày 28-4-1955,khi vào trường,chúng tôi linh cảm thấy có điều bất
thường sắp xảy đến.Về phía các con đường bao quanh trường đều có các lực lượng
lính Nùng và xe tăng án ngữ;nơi cổng ra vào,lính công an bêrê xanh của Bình
Xuyên cũng lợp công sự,đào hầm,hào,hố cá nhân và
mang súng đạn đầy mình,đằng
đằng sát khí.Quả thật đúng 12g15 súng nổ.Trong trường lúc đó còn kẹt gần 500 học
sinh đang học nên thầy Hiệu trưởng Phạm Văn Còn điều đình hai bên,dàn xếp cho
học sinh ra về rồi muốn làm gì thì làm.Và đến 12giơ chúng tôi tuôn ra khỏi
trường,chạy thụt mạng về nhà.
Những năm tháng đó do tình hình thời cuộc,trường Trung học Chu Văn An ngòai Bắc chạy vào Nam,tá túc tại trường Petrus Ký,nên phải rút giờ học lại.Mỗi ngày chỉ học hai hoặc bốn giờ : hoặc từ 7-9 giờ;hoặc 9-11 giờ;hoặc 11-13 giờ.Buổi chiều dành cho học sinh Chu Văn An.Sau ngày 28 tháng 4 đó chúng tôi được nghị học suốt năm tháng;mãi đến tháng 9 tựu trường,chúng tôi mới đến trường học năm thứ hai (đệ lục D)
Xin nói thêm,vào năm 1954,không phải tỉnh nào của miền Nam cũng có trường Trung Học,để học sinh,sau khi đậu tiểu học,có thể thi tuyển vào lớp đệ thất (lớp 6).Ở Saigon có hai trường Trung học công lập lớn nổi tiếng từ lâu là trường Áo tím Gia Long và trường Petrus Trương Vĩnh Ký.Vì thế thí sinh từ các tỉnh lân cận Saigon đều phải cố sức thi vào một trong hai trường này (trường nữ và trường nam).Năm 1954 có gần bốn ngàn thí sinh ở Saigon và các tỉnh nộp đơn thi vào đệ thất nhưng chỉ chọn có bốn trăm cho chín lớp mà thôi.
Bây giờ,ngồi viết lại mấy hàng
này,trước mắt tôi lần lượt hiện ra từng khuôn mặt,từng vóc dáng thân yêu của
thầy,của bạn.Thầy Thới dạy Pháp Văn luôn gắng điếu thuốc Bastos xanh và khi giận
dứa nào thì hét lên :" Hein? Bạt cái mắc dịch bây giờ!Vous ête bête mon
ami".Thầy Marcel dạy nhạc đi khập khiểng mà khó động trời,hở ra là phạt
consigne.Thầy Ba mập ,to người dạy Pháp văn hay kể chuyện tiếu lâm.Thầy Gần dạy
sử Địa kể chuyện dã sử rất hấp dẫn,còn Má Dung cũng dạy Sử Địa trong ba năm liền
không thấy cười bao giờ,cho nên khi nào thấy "Má" nhếch mép là bọn tôi bảo nhau
:"Chắc sắp có bảo lớn!".Thầy Ưng Đồ dạy tiếng Anh(về sau thay thế thầy Nguyễn
Hòang Sang),bảo cả lớp đọc theo "Question"(một số chọc phá,đọc " quét sân"),nhất
là câu "Count from two to five" (thầy đọc giọng lên xuống,rất buồn cười).Và còn
nhiều thầy cô nữa,mỗi người có một dáng vẻ,một thói quen,một tính cách,một cách
dạy,nhưng tất cả đều rất thương yêu chúng tôi.Dù cho chúng tôi nghịch ngợm,phá
phách ( nhất quỉ,nhì ma,thứ ba...mà) nhưng đều tận tâm dạy dỗ,chỉ bảo uốn nắn
chúng tôi;nhờ vậy mà chúng tôi lớn lên...tuy chưa là nhân tài,cũng là kẻ lương
thiện,sống có ích cho xã hội.
Xin các thầy,dù mất ,dù còn,nhận nơi đây
một lời tạ lỗi chân thành và xin dâng các thầy một nén hương
tâm nguyện,gọi là ghi nhớ công ơn suốt đời chẳng quên...
Sống chung lớp,chung trường suốt mấy năm,còn biết bao gương mặt thân thương bè bạn của chúng tôi nữa.Nào Sơn Bịnh làm thơ hay,nào gặp Algérie nay gặp lại,chân đi khấp khiểng,miệng cứ nói tiếng Anh,nào Kha bớt,nào Phùng bảy búa,nào Quang bán cá ( đá banh rất hay),nào Sanh vịt xiêm,Viên điệu...mới ngày nào đi học mặc quần sọt,tóc hớt cao,vô tư bên thầy bên bạn,nay kẻ mất người còn,hoặc lưu lạc khắp bốn phương trời,có bao giờ để cho lòng mình lắng lại mà hồi tưởng năm mươi năm trước?Bỗng dưng nhớ đến câu thơ của Lamartine: " Oh temps suspend ton vol" (Thời gian hãy đừng bay vun vút nữa) và bỗng dưng thèm được sống lại cái không khí ngày xưa,cái khung cảnh ngày xưa bên thầy bên bạn,dù chỉ một ngày,một buổi ...rồi thôi...
Bùi Thanh Danh
Lớp đệ thất D Petrus Ký 1954-1955