Năm Đời Nhạc Sĩ Họ Trần
Ở xứ Việt Nam, khi học nhạc cổ truyền là phải học theo lối truyền khẩu, một lối
học rất được phổ biến khắp Á Châu. Ngày xưa, học tṛ thường đến nhà thầy, ở đó học
cho tới lúc thành tài, có khi 5 năm, 10 năm, hay lâu hơn nữa tùy theo học mau
hay chậm. Khi nào thầy thấy học tṛ đủ sức, hấp thụ đầy đủ những bí quyết của
môn ḿnh đang học th́ lúc đó mới ra về, mới được thầy cho "xuống núi". Khi ở nhà
thầy, công việc làm hàng ngày là giúp việc trong nhà, như làm vườn, quét dọn nhà,
làm tất cả công việc của một người giúp việc. Tối nào thầy hứng lấy đàn ra dạo,
hay đàn bài bản, học tṛ thường lắng tai nghe để thấm nhuần các ngón đàn của thầy.
Khi nào thầy vui, thầy gọi một học tṛ để dạy, chỉ cách nhấn cho đúng với điệu của
bài bản. Chính v́ học theo phương pháp này mà học tṛ mất nhiều năm để được đào
tạo thành một nhạc sĩ . Sự khó khăn gian truân trong cách học nhạc cổ truyền,
thêm vào đó sự coi thường của xă hội Việt Nam thời phong kiến cho rằng đàn hát
là "xướng ca vô loài" nên số người học nhạc không có bao nhiêu người. Ngành nhạc
chỉ dành để giải trí, và nhạc sĩ không được đi thi để trở thành quan trong triều
đ́nh. Chính v́ thế, t́m được một gia đ́nh nhạc sĩ nhiều đời ở Việt Nam không phải
là chuyện dễ ! Ở Việt Nam có một vài gia đ́nh nhạc sĩ trong lĩnh vực tân cổ nhạc.
Gia đ́nh nhạc sĩ Lữ Liên lúc đầu chuyên về nhạc cổ vơí cây đàn nhị qua tài nghệ
của nhạc sĩ Lữ Liên (hiện đang sinh sống tại tiểu bang California, Hoa kỳ. Các
con của ông chuyển sang ngành tân nhạc Việt và nhạc ngoại quốc từ lúc ở Sài G̣n
trước 1975 và đă nổi tiếng như nữ ca sĩ Bích Chiêu (cùng thời với Bạch Yến,
Thanh Thúy, hiện sống tại tỉnh Orléans, Pháp sau khi bôn ba nơi hải ngoại từ năm
1963 ở Pháp, rồi Ư đại lợi, rồi nay trở lại Pháp), Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Anh Tú,
Lưu Bích, ban nhạc Uptight (tất cả đều nổi tiếng trong cộng đồng Việt và cư ngụ
tại vùng Nam California từ 20 năm nay). Gia đ́nh nhạc sĩ Phạm Duy cũng là một
ngoại hạng. Nhạc sĩ Phạm Duy (sinh năm 1921) là một nhạc sĩ có một sức sáng tác
hiếm có (trên 1000 ca khúc trong đó hàng trăm bản nhạc đă chinh phục cả ba thế hệ
Việt Nam). Vợ ông là nữ ca sĩ Thái Hằng lúc trước đă hát trong ban hợp ca Thăng
Long với các anh em Hoài Trung, Hoài Bắc (đă từ trần tại California và c̣n là nhạc
sĩ sáng tác nổi danh dưới tên Phạm Đ́nh Chương có vợ
là nữ ca sĩ Khánh Ngọc) và
Thái Thanh (các con của nữ danh ca Thái Thanh là Ư Lan và Quỳnh Hương đă chinh
phục giới yêu nhạc Việt ở hải ngoại từ năm 1991. Gần đây hơn, Mai Linh, con gái
lớn của Ư Lan, vào nghề ca hát và đă tạo cho ḿnh một chỗ đứng có nhiều triển vọng).
Các con của Phạm Duy - Thái Hằng lập ra ban nhạc kích động trẻ The Dreamers ở
Sài G̣n vào cuối thập niên 60. Ban nhạc này vẫn c̣n vang tiếng khi sang Hoa Kỳ
vào đầu thập niên 80 cho tới đầu thập niên 90 th́ ră. Các con của Phạm Duy đă tạo
một ngôi vị vững chắc trong làng tân nhạc Việt ở hải ngoại như nam ca sĩ Duy
Quang ( đă từng là chồng của nữ ca sĩ Julie - mang tên Julie Quang khi sống với
Duy Quang), các ca sĩ Thái Hiền, Thái Thảo (có chồng là nam ca sĩ Tuấn Ngọc thuộc
gia đ́nh nhạc sĩ Lữ Liên), Thái Hạnh. Nhạc sĩ Duy Cường chuyên về ḥa âm, và trở
thành người ḥa âm của tất cả các bản nhạc của cha (Phạm Duy) và soạn ḥa âm cho
hàng ngh́n bản nhạc cho các ca sĩ Việt ở California. Gia đ́nh nhạc sĩ Hoàng Thi
Thơ với vợ là nữ ca nhạc sĩ Thúy Nga (nổi tiếng một thời với chiếc phong cầm,
c̣n sinh hoạt trong những năm đầu sang Mỹ và sau đó từ giă sân khấu luôn). Con
và cháu là Hoàng Thi Thi, Hoàng Thi Thao từng nổi tiếng thần đồng vĩ cầm ở Việt
Nam và tiếp tục đàn vĩ cầm cho các ban nhạc Việt Nam trong cộng đồng Việt tại
California. Nhạc sĩ Thu Hồ cũng là ca sĩ nổi tiếng ở Việt Nam có một cô con gái
trở thành ca sĩ Mỹ Huyền tạo sự nghiệp tại California từ khi sang Mỹ. Gia đinh
Phạm Nghệ (hiện ở Hoa Kỳ) chuyên về nhạc cổ điển. Gia đ́nh nhạc sĩ vĩ cầm Nguyễn
Khắc Cung (hiện ở Pháp) chuyên về nhạc cổ điển Tây phương. Gia đ́nh nhạc sĩ thôỉ
sáo Nguyễn Đ́nh Nghĩa (hiện sống ở Virginia, Hoa kỳ) chuyên về nhạc cổ Việt Nam
với các con giỏi về các loại đàn Việt, đă đi tŕnh diễn nhiều nơi tại Mỹ từ năm
1982. Về phía cải lương, cặp nghệ sĩ Việt Hùng-Ngọc Nuôi nổi tiếng trong giới
hát cải lương từ nhiều năm qua, có các con đi về phía tân nhạc nổi tiếng một thời
qua ban nhạc The Crazy Dog, và nữ ca sĩ Bích Ngọc tạo một chỗ đứng trong giới nhạc
trẻ. Nghệ sĩ Hữu Phước (từ trần năm 1997 tại Pháp) nổi tiếng là người hát mùi 6
câu vọng cổ và đóng tuồng làm rơi nước mắt người xem, có nhiều con nhưng chỉ có
Hương Lan là nổi tiếng nhất và là ca sĩ từ cổ nhạc sang tân nhạc thành công và
giữ địa vị ca sĩ hàng đầu trong ngành ca hát Việt Nam ở hải ngoại. T́m đuợc một
ḍng họ năm đời nhạc sĩ nhạc cổ truyền có thể nói là hiếm có lắm. Tôi được may mắn
sinh trưởng trong một gia đ́nh có tới 5 đời nhạc sĩ cổ truyền, và mỗi đời có những
bước tiến "canh tân", có những đóng góp vào việc bảo tồn, bảo lưu, duy tŕ và phổ
biến nhạc Việt cổ truyền khắp nơi trên thế giới. Đớ thứ nhứt: Nhạc sĩ nhạc cung
đ́nh Huế Người khởi xướng truyền thống nhạc của gia đ́nh họ Trần là ông sơ của
tôi, tên là Trần Quang Thọ (1830-1890). Ông là nhạc sĩ của ban đại nhạc triều
đ́nh Huế, dưới thời vua Tự Đức. Cụ mang cả gia đ́nh vào trong Nam và định cư tại
làng Vĩnh Kim, thuộc tỉnh Mỹ Tho, cạnh bên sông Sầm Giang (được nổi tiếng nhờ
tên ban kịch Sầm Giang của chú tôi là Trần Văn Trạch). Cụ chỉ là một nhạc sĩ
chuyên nghiệp, sử dụng cây đàn tỳ bà, đàn nhị, và các loại trống. Chính cụ đă
mang truyền thống nhạc miền Trung và Ca Huế vào trong Nam để sau này biến thành
loại nhạc đàn tài tử miền Nam. Đời thứ nh́ : Nhạc sĩ sáng tác bài bản, sáng chế
cách ghi bài bản cổ Ông cố tôi, Trần Quang Diệm (1853-1925) là người con thứ
tư trong gia đ́nh có 7 ngướ con. Ông có khiếu về nhạc nhất trong gia đ́nh. Chính
ông là người duy tŕ truyền thống nhạc trong gia đ́nh. Đàn tỳ bà rất giỏi, được
gởi ra thành nội Huế để học loại nhạc Ca Huế (một loại nhạc thính pḥng với bài
bản khác với bài bản của dàn đại nhạc và tiểu nhạc). Ông cố tôi được nổi tiếng
khắp vùng lục tỉnh về tài đàn tỳ bà. Ông đă sáng tác một số bài bản cho đàn tỳ
bà, nhưng đă thất truyền sau một lần cháy nhà. Ông đă nghĩ ra cách ghi chia phân
nhịp trong các bài cổ nhạc để dễ dạy cho học tṛ. Ông có sáng tác 8 bài Ngự
trong số 10 bài Ngự để đón tiếp vua Thành Thái lúc vua vào thăm viếng miền Nam.
Trong thời của ông có hai ông nhạc sĩ khác nổi tiếng về nhạc miền Nam là Nguyễn
Liên Phong và Nguyễn Ṭng Bá. Hai luồng âm nhạc của ông cố tôi và của hai nhạc
sĩ này đă làm phát sinh ra nhạc đàn tài tử miền Nam. Đời thứ ba:Nhạc sĩ sáng tạo
Ông cố tôi có 7 người con, nhưng chỉ có hai người là có năng khiếu về âm nhạc.
Người con thứ nh́ là Bà Cô Ba của tôi, tên là Trần Ngọc Viện (1885-1944), và ông
nội tôi là Trần Quang Triều (1897-1929), người con thứ sáu có biệt danh là Bảy
Triều. Trên khai sanh tên là Trần Văn Chiều v́ lúc làm giấy khai sanh, người thơ
kư trong làng đă tự ư đổi lại thành Chiều thay v́ Triều. Chữ lót họ cũng đổi
luôn, nhứt là vào thời đó, trong làng xă miền Nam, hễ con trai th́ cho chữ Văn, và con gái th́ dùng chữ lót Thị . Bà Cô Ba của tôi đàn tỳ bà theo truyền thống
Huế và rất giỏi về đàn tranh. Bà là người đă thành lập một đoàn cải lương với
các nghệ sĩ toàn là nữ giới, lấy tên là gánh Nữ Đồng Ban (1927-1929). Đây có thể
nói là một gánh hát duy nhứt trong lịch sử cải lương Việt Nam là nghệ sĩ toàn là
đàn bà. Các cô thiếu nữ toàn là con gái con nhà lành trong làng. Bà Cô của tôi bắt
các cô phải học chữ ban ngày, tập đánh vơ, múa côn, múa kiếm, luyện giọng. Ông
thầy tuồng tên là Nguyễn Tri Khương (mất vào năm 1962), anh ruột của bà Nội của
tôi, là người con thứ tư trong gia đ́nh họ Nguyễn (ḍng dơi Nguyễn Tri Phương),
tôi gọi là ông Cậu Năm. Ông Cậu Năm là một nhạc sĩ rất có tài chẳng những thổi
sáo điêu luyện, làu thông tất cả những nhạc khí đàn dây và trống. Ông lại sở trường
viết những bài bản mới. Chính trong vở tuồng " Giọt lệ chung t́nh" (1927), ông đặt
một số bài bản mới như "Phong Xuy Trịch Liễu","Yến Tước Tranh Ngôn", "Thất Trỉ
Bi Hùng ", "Bắc Cung Ai " mà dường như chỉ được lưu truyền trong gia đ́nh mà
thôi , mặc dù âm điệu rất phong phú. Số phận của những bài bản nầy giống như mấy
mươi bài của thầy kư Trần Quang Quờn, có lẽ sẽ bị mai một đi. Người anh của ông
Cậu Năm là ông cậu Tư Nguyễn Tri Lạc rất sành về nhạc lễ và các tiết tấu trong
các loại nhạc lễ. Ông là cụ thân sinh của cố nhạc sĩ tài danh Nguyễn Mỹ Ca, nổi
tiếng qua nhạc phẩm "Dạ Khúc ". Ông Nội của tôi, Trần Quang Triều (1897-1931) giỏi
về đàn ḱm. Lúc đó, ông học ở trường trung học Chasseloup Laubat của Pháp ở Sài
G̣n. Tôi được nghe kể lại rằng lúc nhỏ ông Nội tôi giỏi về môn thôi miên, thường
hay dùng môn này để làm cho các ông giám thị ngủ hết để ngồi chơi trong lớp hay
đàn ḱm. Ông có chế ra cách lên dây đặt tên là dây Tố Lan, được giới cải lương
"dâyTố Lan của ông Bảy Triều ". Cách lên dây của hai dây đàn ḱm cách nhau một
quăng bảy thứ (Do-Sib) tạo một không khí buồn ảo năo khi đàn. Một trong những
người học tṛ ngoài gia đ́nh được nhiều người biết là ông thân của nhạc sư đàn
tranh Nguyễn Vĩnh Bảo. Ông Nội tôi không may mất sớm thành ra không thể phát triển
cách lên dây Tố Lan cho đàn ḱm được rộng răi hơn. Hai gia đ́nh nhạc sĩ Trần và
Nguyễn phối hợp lại với nhau đă làm phát sinh ra một truyền thống âm nhạc gia
đ́nh ngày càng phong phú. Đời thứ ba đă cho thấy rằng ảnh hưởng nhạc Tây phương
đă xâm nhập một phần nào vào trong nền âm nhạc cổ miền Nam. Ông Cậu Năm Nguyễn
Tri Khương có viết lời Việt cho những bản nhạc Pháp thịnh hành thời đó như "La
Madelon", "La Marseillaise ". Em của ông Cậu Năm biết đàn lục huyền cầm móc phím,
và một người khác biết kéo vĩ cầm Tây phương. Cả hai nhạc khí Tây phương bắt đầu
được dùng trong nhạc đàn tài tử miền Nam. Đời thứ tư : Nhạc sĩ hướng về Tây
phương và nghiên cứu Ông bà Nội tôi có ba người con: ông thân tôi là Trần Văn
Khê (sinh năm 1921, hiện sống tại Vitry sur Seine, Pháp), chú tôi là Trần Văn Trạch
(sinh năm 1924 - mất năm 1994 tại Pháp), và cô tôi là Trần Ngọc Sương (sinh năm
1926, hiện sống ở Montréal, Canada). Cô tôi cũng đă từng đi hát thời các ca sĩ Mộc
Lan, Kim Tước, Minh Trang dưới danh hiệu là ca sĩ Thủy Ngọc, có thu một vài dĩa
78 ṿng, đă tạo cho ḿnh một chỗ đứng trong làng tân nhạc, nhưng đă giải nghệ
vào khoảng 1950. Chú tôi được mệnh danh là Quái Kiệt Trần Văn Trạch. Lúc nhỏ có
học đàn tỳ bà và đàn rất hay, và cũng có khiếu ca cổ nhạc rất mùi, không thua ǵ
cố nghệ sĩ Năm Nghĩa thời 30. Nhưng có lẽ v́ hoàn cảnh nên mới dấn thân vào
ngành ca hát. Khởi đầu mở một pḥng trà nhỏ (loại salon de thé) ở đường
Lagrandière. Sau đó, khoảng 1947-48, chú Trạch hoạt náo và hát tại dancing
Théophile ở vùng Dakao. Các bài nhạc hài hước đầu tiên do chú Trần Văn Trạch hát
là do nhạc sĩ Lê Thương viết ra vào năm 1948-49 (Ḥa B́nh 48, Liên Hiệp Quốc ).
Các chương tŕnh phụ diễn tân nhạc trên sân khấu xiệc, hát bóng, và danh từ đại
nhạc hội là do chú Trạch đề xướng ra ở Sài G̣n từ đầu năm 1950. Chú đă trở thành
một ca sĩ hài hước ngoại hạng nổi tiếng qua các bản diễu như "Anh Phu Xích Lô"
(1951), "Chuyến Xe Lửa Mùng 5" (1952), "Cái Tê Lê Phôn", "Cái Đồng Hồ Tay", "Anh
Chàng Thất Nghiệp", "Cây Bút Máy", "Đừng Có Lo". Hai bài nhạc không hài hước
nhưng rất được phổ biến là "Chiến Xa Việt Nam" (1952), và "Xổ Số Kiến Thiết Quốc
Gia" (1952). Ban nhạc Sầm Giang đă có mặt trên đài phát thanh Pháp Á từ 1950 tới
1954, quy tụ một số nhạc sĩ gạo cội như cố nhạc sĩ Vơ Đức Thu, Khánh Băng, về
sau có Nghiêm Phú Phi (hiện sống tại Orange County, California, Hoa kỳ), các ca
sĩ nổi tiếng thời đó như Trần Văn Trạch, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tôn Thất Niệm,
Linh Sơn, Mạnh Phát, Minh Diệu, Túy Hoa, Tâm Vấn. Đến năm 1953, có thêm những bộ
mặt mới như nữ kịch sĩ Bích Thuận, ban Thăng Long, Duy Trác, Tùng Lâm, và ......em
bé Bạch Yến ( trở thành người bạn "đồng hành và đồng chí" của tôi sau này).
Ngoài lĩnh vực âm nhạc, chú Trần Văn Trạch c̣n là người làm phim Việt đầu tiên ở
miền Nam. Hai cuốn phim Ḷng Nhân Đạo (1955) với Trần Văn Trạch, Kim Cương, Hà
Minh Tây (sống ở Paris), và Giọt Máu Rơi (1956) với Trần Văn Trạch và Kim Cương
do hăng phim Mỹ Phương sản xuất. Sau đó chú Trạch lập ra hăng phim Việt Thanh và
có làm đạo diễn cho hai cuốn phim cổ tích Thoại Khanh Châu Tuấn (1956) với Kim
Cương và Vân Hùng, và Trương Chi Mỵ Nương (1956) với Trang Thiên Kim và La Thoại
Tân. Chỉ có thân phụ tôi, Trần Văn Khê (1921 - ) là người duy nhứt trong ḍng họ
Trần đă học nhạc cổ đàng hoàng và đă phát huy nhạc Việt Nam ra ngoài biên giới
Việt. Lúc nhỏ Ba tôi đă được ông Cố tôi dạy cho cách tụng kinh Phật giáo, lại được
nghe những buổi ḥa đàn trong gia đ́nh, gặp những nhạc sĩ tài danh thời đó, nên
Ba tôi dễ hấp thụ những "ngón đờn nhức xương" trong cổ nhạc Việt. Ba tôi đă học
đàn ḱm với ông Nội tôi, học đàn tỳ bà và đàn tranh với bà cô Ba, học trống với
ông Cậu Tư Nguyễn Tri Lạc, học lư thuyết nhạc cổi Việt với ông Cậu Năm Nguyễn
Tri Khương, học đàn lục huyền cầm móc phím với một ông cậu khác, học măng cầm và
nhạc lư ḥa âm Tây phương ở trường trung học Petrus Kư tại Sài G̣n. Thừa hưởng
hai truyền thống âm nhạc Đông và Tây, phong trào nhạc Tây phương đang bành trướng
mạnh và giới trẻ thời đó nghĩ rằng Âu hóa nhạc Việt mới là tiến bộ. Bởi thế cho
nên, lúc c̣n là học sinh trung học, mỗi lần về làng Vĩnh Kim, Ba tôi thường cùng
bác Mỹ Ca (chuyên đờn violon) ḥa đàn. Hai người thường biểu diễn đàn cổ nhạc với
cây đàn lục huyền cầm móc phím do Ba tôi đờn với bác Mỹ Ca đờn violon. Dân làng
tề tựu đông đảo trước sân nhà để nghe mấy "cậu Sài G̣n" biểu diễn nhạc khí lạ.
Song song với việc đổi mới trong cách sử dụng nhạc khí, Ba tôi c̣n đờn những bài
nhạc mới do tầng lớp sinh viên trẻ đang tập tành sáng tác. Lúc đó vào khoảng
1936-37. Ba tôi rất hăng hái trong việc "canh tân" nhạc Việt. Từng làm trưởng
ban văn nghệ ở trường Petrus Kư, sau ra Hà Nội học trường thuốc, quán xuyến vai
tuồng nhạc trưởng ban nhạc trường đại học Hà Nội vào năm 1942-43. Chính trong thời
gian thế chiến thứ hai, Ba tôi có phổ nhạc bài thơ "Đi Chơi Chùa Hương" của Nguyễn
Nhược Pháp vào năm 1943 và đă do nữ ca sĩ Mộc Lan tŕnh bày lần đầu tại Việt Nam
vào năm 1950 và sau này nữ ca sĩ Thanh Lan có thu vào băng vidéo ở Sài G̣n
(1990). Một bản nhạc khác cũng được biết tới là "Giận Nhau" . Ngoài ra Ba tôi có
sáng tác khoảng trên 30 bản nhạc nhưng không có xuất bản. Đến khi sang Pháp năm
1949, Ba tôi vẫn c̣n tin rằng việc làm đẩy mạnh nền tân nhạc Việt theo chiều hướng
Âu Mỹ là con đường đi rất đúng. Do đó thân phụ tôi lấy biệt hiệu là ca sĩ Hải
Minh ( tên của tôi và của em trai tôi ghép lại) để thâu trên 30 dĩa 78 ṿng cho
hăng dĩa ORIA tại Paris từ năm 1949 tới 1951. Các bản nhạc do Ba tôi hát thường
được phát thanh tại các rạp hát bóng thời đó ở Sài G̣n và lục tỉnh, chẳng hạn
như các bản "Quyết Tiến", "Xa Quê", "Bông Hoa Rừng", "Ḥa B́nh 48", "Quảng Đường
Mai", vv.... của những bạn thân của Ba tôi như Vơ Đức Thu, Lê Thương, Phạm Duy,
Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Hữu Ba. Đến khi Ba tôi ngă bịnh
phải nằm nhà thương hơn ba năm trời từ 1953 tới năm 1956. Chính trong khoảng
thớ gian này đă là mầm móng tạo cơ hội cho Ba tôi nghĩ tới việc "trở về nguồn"
và bắt đầu ghi tên vào khóa thi tiến sĩ âm nhạc ở đại học đường Sorbonne với đề
tài "Musique Traditionnelle Vietnamienne" (Âm nhạc cổ truyền Việt Nam). Ông thân
tôi trở thành vị tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam và là người đóng góp nhiều
nhất trong việc phát triển nhạc Việt trên thế giới. Ông làm giáo sư nhạc học ở
trường đại học Sorbonne từ 1958 tới 1987, giám đốc Trung tâm nghiên cứu nhạc
Đông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale) từ 1960 tới 1987, giám đốc
nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Centre National de la
Recherche Scientifique), phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc (Conseil
International de la Musique, UNESCO) từ 1958 tới 1989, và sau đó trở thành hội
viên danh dự. Ngoài ra ông c̣n giữ nhiều chức vụ quan trọng tại các cơ quan
nghiên cứu âm nhạc trên thế giới. Tác giả của trên 300 bài viết về nhạc Á châu
và Việt, ba quyển sách về nhạc Việt, tác giả của nhiều bài viết về nhạc Việt
trong hầu hết các tự điển âmnhạc trên thế giới (Harvard Dictionary,
Encyclopaedia Britannica, New Grove Dictionary of Music, Larousse, Encyclapaedia
Universalis, Bordas, Fasquelle, vv...) thân phụ tôi đă về hưu từ tháng 10, 1987.
Trong thời gian về hưu, ông vẫn đi dạy ở Hoa Kỳ, Canada, và cố vấn cho dự án
thành lập một trung tâm bảo vệ nhạc cung đ́nh Huế tại Việt Nam từ năm 1994. Năm
1997 Ba tôi có xuất bản một quyển sách mang tên là "Tiểu Phẩm " ghi lại nh"ng kỷ
niệm của thời trẻ. Năm 1998, các bạn thơ của Ba tôi đă xuất bản một tập thơ gồm
một số bài thơ của Ba tôi và các bạn thơ họa lại. Hiện nay ông vẫn tiếp tục du lịch
khắp nơi, vẫn tiếp tục theo đuổi việc nghiên cứu, chuẩn bị một số sách, giảng dạy
tại các đại học đường khắp năm châu. Đời thứ năm: Nhạc sĩ trong ḷng nhạc thế giới
Trong số bốn người con của Ba tôi, chỉ có em gái út là Trần thị Thủy Ngọc (1950)
và tôi là Trần Quang Hải (1944) là tiếp tục truyền thống nhạc cổ gia đ́nh. Em
trai kế tôi là Trần Quang Minh (1946) từng tạo tiếng tăm trong giới sinh viên ở
Sài G̣n và nhất là trong trường kiến trúc với ban nhạc kích động " Ba Trái Gáo Dừa"
và ban nhạc "Bùng Rền" chuyên về tân nhạc và nhạc ngoại quốc. Em gái kế đó tên
Trần Thị Thủy Tiên (1948) không có học nhạc nhưng có khiếu làm hề, chọc người
khác cười nhưng chưa bao giờ lên sân khấu hài. Em gái Thủy Ngọc sang Pháp từ năm
1969, học đàn tranh với Ba tôi tại Pháp và phụ giúp Ba tôi dạy đàn tranh tại
Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (1980-1987). Tôi học nhạc từ năm 5 tuổi.
Lúc đó Ba tôi đă đi sang Pháp rồi. Bên nhà, xung quanh tôi không ai biết nhạc để
hướng dẫn tôi. Má tôi cho tôi học đàn Mandoline, rồi học vĩ cầm, rồi dương cầm.
Đến khi trường quốc gia âm nhạc mở cửa tại Sài G̣n năm 1955, tôi là nhạc sinh đầu
tiên của trường, và học vĩ cầm với ông Phạm Gia Nhiêu (hiện vẫn c̣n ở Sài G̣n)
năm đầu tiên. Những năm kế tiếp tôi học vĩ cầm với ông Đỗ Thế Phiệt (đă từ trần
tại Sài G̣n) cho tới năm tốt nghiệp năm 1961. Về nhạc lư tôi học với hai ông
Nguyễn Cầu (từ trần tháng 12, 1992 tại Washington DC, Hoa Kỳ) và Hùng Lân ( từ
trần tại Saigon). Khi sang Pháp vào cuối năm 1961, lần đầu tiên tôi gặp lại Ba
tôi sau 13 năm xa cách, tôi chỉ có ư định học nhạc Tây Phương để trở thành nhạc
sĩ vĩ cầm chứ không có ư định tiếp tục truyền thống nhạc cổ của gia đ́nh. Phải
nói là nhờ nhạc sư vĩ cầm Yehudi Menuhin đă khuyên tôi nên trở về nguồn th́ họa
may tôi có thể trở thành thày của người Tây Phương. Tôi đă nghe lời ông Yehudi
Menuhin. Từ đó tôi học đàn tranh và nhạc lư Á châu với Ba tôi tại Sorbonne cũng
như tại Trung tâm nghiên cứ nhạc Đông Phương. Trong thời gian 8 năm dài đăng đẳng,
tôi đă lỉnh hội về nhạc lư cũng như thực tập một số nhạc khí như trống Zarb của
Ba Tư, đàn nhị nan hu của Trung quốc, đàn vina của Ấn độ miền Nam, hát kinh kịch
Trung quốc, hát múa rối Bunraku của Nhựt, đàn gamelan của Nam Dương. Tôi tự học
đàn độc huyền, đàn c̣, sinh tiền. Tôi đă phát triển kỹ thuật đàn môi sau khi học
với người bạn xứ Anh là John Wright nhờ nghe và thấy nhiều loại đàn môi khác
trên thế giới. Lúc nhỏ, tôi có học đánh muỗng căn bản ở Việt Nam. Khi sang Pháp,
gặp một người bạn nhạc sĩ Mỹ, tên là Roger Mason, đánh muỗng thật hay. Chính nhờ
sự trao đổi kỹ thuật đánh muỗng qua những cuộc "đụng độ" tranh tài muỗng trên
sân khấu mà tôi phát triển cách đánh muỗng. Cho tới ngày hôm nay, tôi là người
duy nhứt thế giới tŕnh diễn độc tấu muỗng trên sân khấu. Tôi có dịp chạm trán với
những danh tài về muỗng tại Mỹ, Gia nă đại, Nga, Anh, Pháp, Thỗ Nhĩ Kỳ, nhưng
chưa ai có thể đánh muỗng hay hơn tôi. Và tôi đă được "tôn" làm "Vua Muỗng (Le
Roi des Cuillers / The King of Spoons) tại một đại nhạc hội dân nhạc ở Cambridge
Folk Music Festival vào năm 1967. Sau khi đậu xong bằng cao học về dân nhạc của
trường cao đẳng khoa học xă hội, tôi được Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học
nhận vào làm việc từ đầu năm 1968. Vài năm sau tôi đệ tŕnh luận án tiến sĩ về sự
khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh. Tôi tự khám phá cách hát đồng song thanh,
tức là hát hai giọng cùng một lúc, do dân Mông Cổ và dân Tuva miền Tây Bá Lợi Á
. Tôi đă năng luyện kỹ thuật hát này để trở thành một người chuyên môn duy nhứt
trên thế giới có thể truyền dạy kỹ thuật hát đồng song thanh cho bất cứ người
nào trong ṿng 3 phút. Năm 1989, tôi cùng anh bạn cùng sở Hugo Zemp hoàn thành
cuốn phim nhan đề "Le Chant des Harmoniques " (Bài hát bồi âm) dựa trên ba khía
cạnh nghiên cứu : cách đo bồi âm của giọng hát qua máy Sonagraph, cách đo cổ họng
và miệng qua quang tuyến X (rayon X / X-ray), và phương pháp dạy hát của tôi.
Phim dài 38 phút, chiếm 4 giải thưởng quốc tế (Estonie năm 1990, Pháp năm 1990,
Canada năm 1991). Năm 1995, tôi được mời sang Kyzyl, thủ đô của xứ Tuva, để làm
chánh chủ khảo cuộc thi hát đồng song thanh cho 300 ca sĩ hát theo kỹ thuật này.
Năm 1997 tôi nghĩ tới chuyện sáng chế ra một cây đàn môi mang tên tôi. Với sự
giúp đở kỹ thuật của Hồ Bách Nghĩa, tôi đă thực hiện giấc mộng của tôi là lưu lại
cho đời sau một nhạc khí mang tên tôi. Cây đàn môi này đă được tặng cho viện bảo
tàng ở Cape Town (Nam Phi), viện bảo tàng đàn môi của xứ Yakut (Tây bá lợi á),
viện bảo tàng đàn môi ở Molln(Áo quốc). Cùng một năm, tôi viết 17 tác phẩm cho
đàn môi nhiều loại và có thu vào một CD mang tên là "Guimbardes du Monde / Jew’s
Harps of the World/ TrânQuang Hai" do hăng dĩa Playasound phát hành tại Paris
vào tháng 11,1997. Năm 1998, tôi được mời như là thượng khách của đại hội đàn
môi thế giới để tham luận về đàn môi Á châu, đàn môi trong nhạc mới Tây phương,
và tŕnh diễn. Tôi được may mắn được chọn là Nhạc Sĩ đánh đàn môi hay nhứt đại hội
( The Best Jew’s Harp Player of the Festival) gồm những người chơi đàn môi giỏi
nhứt. Trong hai năm 1999 và 2000, tôi được mời làm thượng khách (invité
d’honneur) hay chủ tịch danh dự (président d’honneur) của nhiều đại nhạc hội
(Festival d’Auch/Eclats des Voix năm 1999, Festival de Pérouges/Au Fil de la
Voix năm 2000, vv...) Sau nhiều năm tŕnh diễn nhạc Việt tại các đại nhạc hội quốc
tế, giảng dạy tại các trường đại học thế giới, tôi đă và đang tiếp tục duy tŕ
truyền thống nhạc cổ gia đ́nh. Với tổng số 23 dĩa hát(15 dĩa 33 ṿng, 8 dĩa CD)
được phổ biến khắp nơi từ gần 30 năm nay, tiếp tục con đường phát huy nhạc Việt
ở hải ngoại của phụ thân tôi. Một mặt lo bảo vệ truyền thống, một mặt khác tôi tự
vạch một hướng đi cho riêng tôi. Đó là ḥa ḿnh vào trong xă hội Tây phương. Những
thử thách đi từ sáng tác nhạc Việt (400 bài) đến tŕnh diễn nhạc Jazz, nhạc Pop,
qua nhạc phim Tây phương. Tôi đă khởi công làm nhạc điện tử (Về Nguồn,một sáng
tác cùng với nhà soạn nhạc Nguyễn Văn Tường (1929-1997 tại Pháp), nhạc đương đại
tùy hứng (một dĩa 33 ṿng SHAMAN với nhạc sĩ Jazz Misha Lobko, 1982), nhạc tùy hứng
tập thể, những loại nhạc cận đại thuộc khuynh hướng tân kỳ nhất, và một số bài bản
đă được tŕnh diễn tại các nhạc hội quốc tế. Năm 1997, tôi có cộng tác trong dự
án bộ dĩa 3 CD với đề tựa VOIX DU MONDE do 30 nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học đă
chiếm giải thưởng Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros, Le Diapason
de l’Année, Le CHOC de l’annéẹ Tôi cũng có tham dự việc thực hiện một dĩa 2 CD về
nhạc sắc tộc Việt Nam, được xuất bản vào tháng 11, 1997 nhân dịp lễ Thượng Đỉnh
Pháp Thoại lần đầu . Nữ ca sĩ Bạch Yến, một giọng ca quen thuộc của làng tân nhạc
Việt Nam, đă từng nổi tiếng qua bài "Đêm Đông" (nhạc của Nguyễn Văn Thương) và
những bài ca nhạc ngoại quốc, đă mang đến cho tôi sau ngày chúng tôi thành hôn với
nhau, một nguồn hứng mới. Bạch Yến đă đóng góp vào việc phổ biến nhạc Việt ở hải
ngoại một cách đắc lực và kín đáo. Kinh nghiệm về sân khấu, về sự tổ chức chương
tŕnh, cũng như sự lưu ư đến trang y phục để làm cho chương tŕnh tŕnh diễn có
một giá trị sân khấu và nghệ thuật cao hơn. Hai chúng tôi đă sát cánh từ hơn 20
năm nay và đă gặt hái nhiềuthành công, cụ thể hóa bằng một giải thưởng tối cao
Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros năm 1983 tại Paris cho dĩa hát của
chúng tôi "Viêt Nam - Trân Quang Hai & Bach Yên" do hăng dĩa Studio SM phát hành
tại Paris, một huy chương vàng âm nhạc năm 1986 do Hàn Lâm Viện Văn Hóa Á Châu
ban tặng, và nhiều giải thưởng quốc tế khác. Với 5 đời nhạc sĩ cổ truyền, với một
truyền thống âm nhạc gia đ́nh hơn 160 năm, môĩ một đời nhạc sĩ đă có những bước
tiến ngày càng nới rộng. Đời thứ nhứt chỉ giới hạn trong thành nội Huế mà thôi.
Đời thứ nh́ đă thay đổi vào miền Nam và đă có sáng tác bài bản cho đàn tỳ bà. Đời
thứ ba được đánh dấu bằng sự sáng tạo dây Tố Lan cho cách lên dây đàn ḱm để đàn
cảc bài buồn và liên kết giữa hai gia đ́nh nhạc sĩ . Đời thứ tư được chứng ḿnh
bởi ảnh hưởng Tây phương và việc phát huy nhạc cô truyền ơ hải ngoại . Đời thứ
năm nhắm vào sự tŕnh diễn nhạc Việt ở hải ngoại và sự hội nhập các luồng nhạc cổ
tân Ău Á trong một chiều hướng sáng tác cận đại trong một chiều hướng đương đại.
Đời thứ sáu chưa thấy có một viễn ảnh tốt đẹp. Các con học nhạc rất ít, không
có năng khiếu về âm nhạc. Con gái tôi, Trần thị Minh Tâm (sinh năm 1973), học
xong cử nhân về nhạc học tại trường đại học Sorbonne ở Paris (Ba tôi , tôi và
con gái tôi đều học chung một trường dạy về nhạc học). Ngoài ra con tôi học
piano 10 năm, nhạc lư 11 năm. Từng hát cho dàn hợp xướng của trường đại học
Sorbonne. Nhưng lại không thích nghiên cứu. Sau khi đậu cử nhân nhạc học, cháu
t́m được việc làm tổ chức đại nhạc hội cho nhạc cổ điển bên Thụy Sĩ từ năm 1997.
Có thể truyền thống nhạc gia đ́nh họ Trần đến đây là chấm dứt hay có thể trao lại
cho một người nào khác không phải ở trong gia đ́nh ? Tôi vẫn tiếp tục t́m một
người để trao lại những ǵ tôi đă học đuợc hầu tiếp nối con đường tôi đă và đang
dấn thân đi. Cái khó khăn của tôi là khó t́m cho ra một người có đủ khả năng và
chịu để hết thời giờ và tâm chí vào việc học nhạc và nghiên cứu nhạc, cũng như
tŕnh diễn nhạc, nhất là trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Ở trong nước,
tôi không có hy vọng v́ tôi không có mặt trong xứ để khám phá "người trong mộng".
Tôi chỉ nuôi mộng ảo và ước mong sao mộng ảo đó có ngày sẽ trở thành sự thật th́
lúc đó dù tôi có nằm xuống đi rồi, tôi cũng sẽ ngậm cười toại nguyện v́ truyền
thống nhạc của gia đ́nh họ Trần vẫn c̣n được tiếp nối qua những thế hệ sau.
Trần
Quang Hải (Paris)

Trần Quang Hải (TQH): Tôi sinh ngày 13 tháng 5, năm 1944 tại làng Linh Đông Xă, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Lúc c̣n học sinh, học tại trường trung học Trương Vĩnh Kư và học nhạc tại trường quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1955 tới 1961. Sang Pháp năm 1961, học khoa nhạc học tại trường đại học Sorbonne, và trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre of Studies for Oriental Music) ở Paris. Trong thời gian đó, tôi lại học môn dân tộc nhạc học (ethnomusicology) tại trường cao học khoa học xă hội (School of Studies for Social Sciences). Đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học vào năm 1973.. Làm việc tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) từ năm 1968 tới ngày nay (32 năm) với chức vụ nghiên cứu gia về dân tộc nhạc học (ethnomusicologist) chuyên về nhạc Việt Nam và nhạc Á châu, đặc biệt về giọng hát.