Muốn Biết Thuận Hạp

& Khắc Năm Thìn Kỵ như thế nào?

(Nhâm Thìn từ 23-01-2012 đến 09-02-2013)

(Trích dẫn tác phẩm Tử-Vi & Địa-Lý Thực-Hành  của Gs Hàn Lâm Nguyễn-Phú -Thứ)

                   Sau khi năm Tân Mão chấm dứt, thì đến năm Nhâm Thìn được bàn giao từ giờ giao thừa bắt đầu giữa đêm chủ nhựt, 22-01-2012 để cầm tinh đến 24 giờ đêm 09-02-2013. Năm Nhâm Thìn này thuộc hành Thủy và mạng Trường Lưu Thủy tức Nước chảy giòng lớn, năm này thuộc Dương, có can Nhâm thuộc mạng Thủy và có chi Thìn thuộc mạng Thổ. Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành,  thì  năm  này " Chi khắc Can " tức Đất  khắc Trời .Bởi vì: " Mạng Thổ = Thìn khắc mạng Thủy = Nhâm (mạng Thổ  tức Đất được khắc xuất, mạng Thủy  tức Trờì bị khắc nhập). Do vậy, năm này mặc dù bị khắc kỵ, nhưng tổng quát nó không bị ảnh hưởng xấu nhiều như năm Trời khắc Đất giống như các năm : Giáp Tuất (1994), Nhâm Ngọ (2002), Mậu Tý 2008 đã qua. Được biết năm Thìn vừa qua là năm Canh Thìn   thuộc hành  Kim,  nhằm ngày  thứ bảy, 05-02-2000 đến 23-01-2001.

                   Căn cứ theo Niên Lịch Cổ Truyền Á Đông xuất hiện được minh định quảng bá từ năm thứ 61 của đời Hoàng Đế bên Tàu, bắt đầu năm 2637 trước Công Nguyên, cho nên chúng ta lấy 2637 + 2012 = 4649, rồi đem chia cho 60 thì có kết quả Vận Niên Lục Giáp  thứ  77 và số dư 29 năm bắt buộc rơi vào Vận Niên Lục Giáp  thứ 78 bắt đầu từ năm 1984 cho đến năm 2043. Do vậy, năm Nhâm Thìn 2012 này là năm thứ 29 của Vận Niên Lục Giáp 78.

                  Năm  Nhâm Thìn có người thắc mắc, muốn biết năm này tuổi ảnh hưởng vận mạng như thế nào? Vậy chúng ta thử phân tách năm Nhâm Thìn, thì thấy ba việc phải làm như sau:

1.- Đối với Mạng ảnh hưởng như thế nào?

                    Bởi vì, năm Nhâm Thìn thuộc mạng Thủy sẽ đưa đến  thuận hạp hay khắc kỵ với mọi người như thế nào?

Xin trích dẫn như dưới đây :

- Những người có tuổi Cùng mạng Thủy như : Bính Tý (1936 - 1996 ...), Đinh Sửu (1937 - 1997 ...), Giáp Thân (1944 - 2004 ...), Ất Dậu (1945 - 2005 ...), Nhâm Thìn (1952 - 2012 ...), Quý Tỵ (1953 - 2013 ...), Bính Ngọ (1906 - 1966 ...), Đinh Mùi (1907 - 1967 ...), Giáp Dần (1914 - 1974 ...), Ất Mão (1915 - 1975 ...), Nhâm Tuất  (1922 - 1982 ...) và Quý Hợi (1923 - 1983 ...).

                 Xem như tương hòa với năm Nhâm Thìn bởi vì có cùng mạng Thủy cho nên năm này có đời sống an cư & lạc nghiệp sẽ gia tăng, phát triển về mọi mặt một cách bình thường, vì không bị khắc kỵ. Phàm ở trên đời, nếu có đời sống ổn định bình thường, thì xem như tương sanh tốt đẹp

               Tuy nhiên, những người có mạng Âm Thủy như tuổi : Đinh Sửu, Ất Dậu, Quý Tỵ, Đinh Mùi, Ất Mão và Quý Hợi, thì tốt hơn những người có mạng Dương Thủy như tuổi :  Bính Tý, Giáp Thân, Nhâm Thìn, Bính Ngọ, Giáp Dần và Nhâm Tuất. Bởi vì, theo luật Dương Âm lần lượt trưởng tiêu, không khác ngọn thủy triều lên xuống hoặc có không rồi không có hay nói khác đi là Sắc Không rồi Không Sắc. Vì thế: "Dương Âm tương ngộ tất ứng" còn "Dương ngộ Dương và Âm ngộ Âm bất ứng". Phương pháp này áp dụng cho tất cả các tuổi, để chúng ta thực hành sau này.

- Những ngưởi có tuổi có mạng Hỏa như : Bính Dần (1926 - 1986 ...), Đinh Mão (1927 - 1987 ...), Giáp Tuất (1934 - 1994 ...), Ất Hợi (1935 - 1995 ...), Mậu Tý (1948 - 2008 ...), Kỷ Sửu  (1949 - 2009 ...), Bính Thân (1956 - 2016 ...),  Đinh Dậu (1957 - 2017 ...),  Giáp Thìn (1904 - 1964 ...),  Ất Tỵ (1905 - 1965 ...),  Mậu Ngọ (1918 - 2078 ...) và Kỷ Mùi (1919 - 1979 ...).

                 Những người có tuổi mạng Hỏa gặp năm Nhâm Thìn thuộc mạng Thủy, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thủy khắc mạng Hỏa". Bởi vì, mạng Thủy được khắc xuất và mạng Hỏa bị khắc nhập, cho nên những người có mạng Hỏa năm này xấu tổng quát, không thể thực-hiện gì kết quả tốt đẹp. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Thủy gặp năm mạng Thổ - mạng Thổ gặp năm  mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Kim và  mạng Kim gặp năm mạng Hỏa

- Những người có tuổi  mạng Thổ như : Canh Tý (1900 - 1960 ...), Tân Sửu (1901 - 1961 ...), Mậu Thân (1908 - 1968 ...), Kỷ Dậu (1909 - 1969 ...), Bính Thìn (1916 - 1976 ...)  Đinh Tỵ (1917 - 1977 ...), Canh Ngọ (1930 -1990 ...), Tân Mùi (1931 - 1991 ...), Mậu Dần (1938 - 1998 ...), Kỷ Mão (1939 - 1999 ...), Bính Tuất (1946 - 2006 ...) và  Đinh Hợi (1947 - 2007...).

Những người có tuổi mạng Thổ gặp năm Nhâm Thìn thuộc mạng Thủy, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thổ khắc mạng Thủy". Bởi vì, mạng Thổ được khắc xuất và mạng Thủy bị khắc nhập, cho nên những người có mạng Thổ, năm này mặc dù bị khắc kỵ, nhưng tổng quát nó không bị ảnh hưởng xấu nhiều, vì những người đó có mạng khắc kỵ với năm và cũng không có lợi bằng những người có mạng Thủy cùng năm mạng Thủy đã dẫn. Trường hợp này, giống như người có : mạng Thủy gặp năm mạng Hỏa - mạng Hỏa gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Mộc và mạng Mộc gặp năm mạng Thổ.

- Những người có tuổi mạng Kim như : Giáp Tý (1924 - 1984 ...), Ất Sửu (1925 - 1985 ...), Nhâm Thân (1932 - 1992 ...), Quý Dậu (1933 - 1993 ...), Canh Thìn (1940 - 2000 ...), Tân Tỵ (1941 - 2001 ...), Giáp Ngọ (1954 - 2014 ...), Ất Mùi (1955 - 2015 ...), Nhâm Dần (1962 - 2022 ...),  Quý  Mão  (1963 - 2023 ...), Canh   Tuất  (1910 - 1970 ...) và Tân Hợi ( 1911 - 1971 ...).

Những người có tuổi mạng Kim gặp năm Nhâm Thìn thuộc mạng Thủy, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Kim sanh mạng Thủy ". Bởi vì, mạng Kim bị sanh xuất và mạng Thủy được sanh nhập, cho nên những người có mạng Kim, mặc dù được tương sanh, nhưng năm nay bị sanh xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những  người  có : mạng Thủy gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Hỏa - mạng Hỏa gặp năm mạng Thổ và mạng Thổ gặp năm mạng Kim.

- Những người có tuổi mạng Mộc như : Mậu Thìn  (1928 - 1988 ...), Kỷ Tỵ (1929 - 1989 ...), Nhâm Ngọ (1942 - 2002 ...), Quý Mùi (1943 - 2003 ...), Canh Dần  (1950 - 2010 ...),Tân Mão (1951 - 2011 ...), Mậu Tuất (1958 - 2018 ...), Kỷ Hợi (1959 - 2019 ...), Nhâm Tý (1912 - 1972 ...), Quý Sửu (1913 - 1973 ...), Canh Thân (1920 - 1980 ...) và Tân Dậu (1921 - 1981 ...).

Những người có tuổi mạng Mộc gặp năm Nhâm Thìn thuộc mạng Thủy, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thủy sanh mạng Mộc ". Bởi vì, mạng Thủy bị sanh xuất và mạng Mộc được sanh nhập, cho nên những người có mạng Mộc năm này tổng  quát  rất  tốt,  thuận lợi, tiến triển về mọi mặt  để đưa đến thành công như ý. Trường hợp này, giống như người có : mạng Thủy gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Thổ - mạng Thổ  gặp năm mạng Hỏa và mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc.

2.- Đối với Thiên Can ảnh hưởng như thế nào ? :

 Năm Nhâm gặp can Giáp Ất :

Năm này là năm có Can là Nhâm, thuộc mạng Thủy và những người có tuổi Can là Giáp Ất thuộc mạng Mộc, theo luật thuận  hạp  hay khắc kỵ  của  ngũ  hành, thì "mạng Thủy sanh mạng Mộc ". Bởi vì, mạng Thủy bị sanh xuất và mạng Mộc được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Mộc xem như tổng quát rất tốt, thuận lợi, tiến triển về mọi mặt để đưa đến thành công như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Thủy gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Thổ - mạng Thổ gặp năm mạng Hõa và mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc.

Năm Nhâm gặp can Bính Đinh :

 Năm này là năm có Can là Nhâm, thuộc mạng Thủy và những người có tuổi  Can  là  Bính Đinh, thuộc  mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành,  thì "mạng Thủy khắc mạng Hỏa". Bởi vì, mạng Thủy được  khắc xuất và mạng Hỏa bị  khắc nhập, cho nên năm này những người có mạng Hỏa, xem như là năm xấu tổng quát, không thể thực hiện gì kết quả như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Thủy gặp năm mạng Thổ - mạng Thổ gặp năm mạng Mộc - mạng  Mộc gặp năm mạng  Kim và mạng  Kim gặp năm mạng Hỏa.

Năm Nhâm gặp can Mậu Kỷ :

Năm này là năm có Can là Nhâm, thuộc mạng Thủy và những  người  có  tuổi  Can  là  Mậu  Kỷ,  thuộc  mạng Thổ, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thổ khắc mạng Thủy". Bởi vì, mạng Thổ được  khắc xuất và mạng Thủy bị khắc nhập, cho nên năm này những người có mạng Thổ,  dù bị tương khắc, nhưng được khắc xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những người có mạng Thủy gặp năm mạng Thủy. Trường hợp này, giống như người có : mạng Thủy gặp năm mạng Hỏa - mạng Hỏa gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Mộc và mạng Mộc gặp năm mạng Thổ.

Năm Nhâm gặp can Canh Tân :

Năm này là năm có Can là Nhâm, thuộc mạng Thủy và những người có tuổi Can là Canh Tân thuộc mạng  Kim, theo luật thuận  hạp  hay khắc  kỵ  của  ngũ  hành, thì "mạng Kim sanh mạng Thủy". Bởi vì, mạng Kim bị sanh xuất và mạng Thủy được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Kim dù được tương sanh, nhưng bị sanh xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những người có mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc cũng được tương sanh, vì "mạng Mộc sanh mạng Hỏa như đã dẫn. Trường hợp này, giống như người có :  mạng Thủy gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Hỏa - mạng Hỏa gặp năm mạng Thổ và mạng Thổ gặp năm mạng Kim.

Năm Nhâm gặp can Nhâm Quý :

Năm này là năm có Can là Nhâm, thuộc mạng Thủy và những người có tuổi Can là Nhâm Quý thuộc mạng Thủy, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì thì có cùng mạng Thủy, thì xem như tương hòa, cho nên năm này có đời sống an cư & lạc nghiệp sẽ gia tăng, phát triển về mọi mặt một cách bình thường, vì không bị khắc kỵ. Phàm ở trên đời, nếu có đời sống ổn định bình thường, thì xem như tương sanh tốt đẹp.

3.- Đối với Địa Chi ảnh hưởng như thế nào?

Năm Thìn gặp Chi Hợi Tý :

 Năm này có Chi là Thìn thuộc mạng Thổ, những người có Địa Chi Hợi và Tý thuộc mạng Thủy, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Thổ khắc mạng Thủy ". Bởi vì, mạng Thổ được khắc xuất và mạng Thủy bị khắc nhập, cho nên năm này những người có mạng Thủy, xem như là năm xấu tổng quát, không thể thực hiện gì kết quả như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Thổ gặp năm mạng Mộc - mạng Mộc gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Hỏa và mạng Hỏa gặp năm mạng Thủy.

Năm Thìn gặp Chi Thìn Tuất Sửu Mùi :

 Năm này có Chi là Thìn thuộc mạng Thổ, những người có Địa Chi Thìn Tuất Sửu và Mùi tức Tứ Mộ thuộc mạng Thổ, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, có cùng mạng Thổ, thì xem như tương hòa, cho nên năm này có đời sống an cư & lạc nghiệp sẽ gia tăng, phát triển về mọi mặt một cách bình thường, vì không bị khắc kỵ. Phàm ở trên đời, nếu có đời sống ổn định bình thường, thì xem như tương sanh tốt đẹp.

Năm Thìn gặp Chi Dần Mão :

Năm này có Chi là Thìn thuộc mạng Thổ, những người có Địa Chi Dần và Mão thuộc mạng Mộc, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Mộc khắc mạng Thổ ". Bởi vì, mạng Mộc được khắc xuất và mạng Thổ bị khắc nhập, nhưng những người mạng Thổ được khắc xuất, xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những người có mạng Mộc gặp năm mạng Mộc Trường hợp này, giống như người có : mạng Thổ gặp năm mạng Thủy - mạng Thủy gặp năm mạng Hỏa - mạng Hỏa gặp năm mạng Kim và mạng  Kim gặp năm mạng Mộc.

Năm Thìn  gặp Chi Tỵ Ngo :

Năm này có Chi là Thìn thuộc mạng Thổ, những người có Địa Chi Tỵ và Ngọ thuộc mạng Hỏa, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của ngũ hành, thì "mạng Hỏa sanh mạng Thổ". Bởi vì, mạng Hỏa bị sanh xuất và mạng Thổ được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Hỏa, dù được tương sanh, nhưng bị sanh xuất xem như bị tiêu hao tổng quát, vì chỉ cho ra mà chẳng thâu được nguồn lợi nào đáng kể và không bằng những người có mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc cũng được tương sanh, vì "mạng Mộc sanh mạng Hỏa như đã dẫn. Trường hợp này, giống như người có : mạng Thổ gặp năm mạng Kim - mạng Kim gặp năm mạng Thủy - mạng  Thủy gặp năm mạng Mộc và mạng Mộc gặp năm mạng Hỏa.

Năm Thìn gặp Chi Thân Dậu :

Năm này có Chi là Thìn thuộc mạng Thổ, những người có Địa Chi Thân và Dậu thuộc mạng Kim, theo luật thuận  hạp  hay khắc  kỵ  của  ngũ  hành, thì "mạng Thổ sanh mạng Kim ".Bởi vì, mạng Thổ bị sanh xuất và mạng Kim được sanh nhập, cho nên năm này những người có mạng Kim xem như tổng quát rất tốt, thuận lợi, tiến triển về mọi mặt để đưa đến thành công như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Thổ gặp năm mạng  Hỏa - mạng Hỏa gặp năm mạng Mộc. mạng Mộc gặp năm mạng Thủy và mạng Thủy gặp năm mạng Kim.

Để tạm kết thúc bài này, tôi xin kính chúc tất cả quý bà con đồng hương bước sang năm mới Nhâm Thìn  2012  được : An Khang Thịnh Đạt - Công Thành Danh Toại - Tâm Thân Thường Lạc và Phúc Thọ Khương Ninh.

Hàn Lâm NGUYỄN PHÚ THỨ

Mừng Xuân Nhâm Thìn 2012

 

Năm Thìn kể chuyện Rồng

(Nhâm Thìn từ 23-01-2012 đến 09-02-2013

(Trích dẫn tác phẩm Tử-Vi & Địa-Lý Thực-Hành  của Gs Hàn Lâm Nguyễn-Phú -Thứ) 

                   Sau khi năm Tân Mão chấm dứt, thì đến năm Nhâm Thìn được bàn giao từ giờ giao thừa bắt đầu giữa đêm chủ nhựt, 22-01-2012 để cầm tinh đến 24 giờ đêm 09-02-2013. Năm Nhâm Thìn này thuộc hành Thủy và mạng Trường Lưu Thủy tức Nước chảy giòng lớn, năm này thuộc Dương, có can Nhâm thuộc mạng Thủy và có chi Thìn thuộc mạng Thổ. Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành,  thì  năm  này "Chi khắc Can" tức Đất  khắc Trời .Bởi vì: " Mạng Thổ = Thìn khắc mạng Thủy = Nhâm (mạng Thổ  tức Đất được khắc xuất, mạng Thủy  tức Trờì bị khắc nhập). Do vậy, năm này mặc dù bị khắc kỵ, nhưng tổng quát nó không bị ảnh hưởng xấu nhiều như năm Trời khắc Đất giống như các năm : Giáp Tuất (1994), Nhâm Ngọ (2002), Mậu Tý 2008 đã qua. Được biết năm Thìn vừa qua là năm Canh Thìn   thuộc hành  Kim,  nhằm ngày  thứ bảy, 05-02-2000 đến 23-01-2001.

                   Căn cứ theo Niên Lịch Cổ Truyền Á Đông xuất hiện được minh định quảng bá từ năm thứ 61 của đời Hoàng Đế bên Tàu, bắt đầu năm 2637 trước Công Nguyên, cho nên chúng ta lấy 2637 + 2012 = 4649, rồi đem chia cho 60 thì có kết quả Vận Niên Lục Giáp  thứ  77 và số dư 29 năm bắt buộc rơi vào Vận Niên Lục Giáp  thứ 78 bắt đầu từ năm 1984 cho đến năm 2043. Do vậy, năm Nhâm Thìn 2012 này là năm thứ 29 của Vận Niên Lục Giáp 78.

Năm nay là con Rồng cầm tinh, là một linh vật đứng đầu trong trong tứ linh là : Long, Lân, Qui Phụng (Phượng). Bởi vì, Rồng là linh vật tổ của tộc Việt và Trung Hoa thuộc Á Châu, cho nên lấy hình Rồng thêu lên y phục cho vua chúa và xây cất đền đài lăng tẩm ngày xưa cũng có lộng hình Rồng; Lân là linh vật có hình dáng giống con Sư Tử, Vua Chúa có nhân đức lắm mới thấy nó. Do vậy, người ta thường bong hình con vật nầy để múa trong dịp bước sang năm mới, với ý muốn mọi nhà đều được Lân đến, thì cả năm làm ăn phát đạt; Qui là linh vật cũng như loại Rùa, nhưng nó rất quý hiếm như Rùa Vàng = Kim Qui hay Thần Rùa = Thần Qui; Phụng (Phượng)  là linh vật cũng là chúa loại cầm thú, có lông ngũ sắc vô củng tuyệt đẹp, cho nên có câu : Tiên Sa Phụng (Phượng) Lộn là thế đó! Đây là, con vật thứ tư của Tứ Linh.

Căn cứ theo Dương Âm, thì tứ linh sẽ là : Long (Dương), Lân (Âm), Qui (Dương) và Phụng (Phượng) (Âm). Bởi vì, trên thế gian này, phải có Trời (Dương) và Đất (Âm) tạo hóa kết thành, cho nên trong Tứ Linh trở thành 2 cặp Dương Âm không thể tránh khỏi, nghĩa là từ  Dương tới Âm, rồi hết Âm sang Dương, không khác từ Ngày (Mặt Trời) đến Đêm (Mặt Trăng), và từ đó ngày nay chúng ta thấy đặt tên các bảng tiệm hoặc các đám cưới người ta may cặp gối cũng dùng Long (Dương = Chồng ) và Phụng (Phượng) (Âm = Vợ) ngắn gọn và không mất ý nghĩa cặp Dương Âm kết thành.

Trong kho tàng Cao dao, Tục ngữ và Thành ngữ trong dân gian Việt Nam, cũng nhắc đến con Rồng, xin trích dẫn như sau :

Rồng nằm bể cạn phơi râu,

Mấy lời anh nói, giấu đầu, hở đuôi.

Rồng vàng tắm nước ao tù,

Người khôn ở với người ngu bực mình.

Rồng giao đầu, Phụng (Phượng)  giao đuôi,

Nay tui hỏi thiệt : Mình thương tui không mình?

Rồng chầu ngoài Huế,

Ngựa tế Đồng Nai,

Sông trong chảy lộn sông ngoài,

Thương người xa xứ lạc loài tới đây,

Tới đây, thì ở lại đây,

Bao giờ bén rễ, xanh cây thì về....

                                              (Ca dao) 

Rồng đen lấy nước thì nắng,

Rồng trắng lấy nước thì mưa....

                                               (Tục ngữ)

Rồng bay Phụng (Phượng) múa.

Rồng mây gặp hội.

Rồng dến nhà Tôm.

Rồng thiêng uốn khúc.

Rồng ở với Giun.

Vẽ Rồng vẽ Rắn...

                                           (Thành ngữ) 

Ngoài ra, Rồng là con linh vật cao quí nhứt, cho nên tượng trưng cho vua chúa, bởi có chữ như sau : Long Vương = Vua (Thần) Biển - Long Bào = Áo Vua - Long Nhan = Đức Vua - Long Thuyền = Ghe thuyền để Vua đi, ngự - Long Sàng = Giường Vua ngủ, ngự - Long Mạch = Mạch Rồng, chỗ đất thạnh vượng, có chôn ai xuống đó, thì con cháu sẽ được giàu sang - Long Huyệt = Hàm Rồng - Long Phi = Hoàng hiệu Rồng bay - Ngân Long Phi = Tiền có hình Rồng bay - Đền Rồng = Đền Vua - Ngai Rồng = Ngai Vua ngự - Bệ Rồng = Bệ Vua ngự  - Rồng Chầu = Rồng chực chầu Vua Chúa, nên có câu : Rồng chầu, Hổ phục - Thuyền Rồng = Thuyền Vua ngự - Hội Rồng mây = Hội Vua, Tôi gặp gỡ....

Hơn nữa, trong các cây cũng có tên Rồng, xin trích dẫn như sau : Xương Rồng, Lưỡi Rồng, Đậu Rồng...

hoặc là : Cá Rồng Rồng, Cá hóa Long....

hay là  Duyên cỡi Rồng (để chỉ duyên gái lành, gặp người chồng tốt)

- Giờ Thìn là giờ từ 7 đến 9 gìờ sáng.

- Tháng Thìn là tháng ba của năm Âm Lịch.

Trong tiếng Pháp, thường dùng Le Dragon (n.m) = Con Rồng đực.

Năm nay, là năm Nhâm Thìn, có can là Nhâm cũng là năm đặc biệt, rớt đúng vào năm trong dân gian thường nói :" Nam Nhâm nữ Quý " để chỉ người phái Nam có tuổi Nhâm và người phái Nữ có tuổi Quý xem như tốt.

                   Nhưng nếu chúng ta bình tâm mà xét cho kỹ, thì không thể chấp nhận được, bởi vì con người sanh ra có : Giờ, Ngày, Tháng và Năm, với thời gian đó thường kết hợp Can Chi. Hơn nữa, chúng ta chỉ thấy phái nam có can là Nhâm và phái nữ có can là Quý, mà kết luận như thế thì quá vội vàng. Mặc dù, can Nhâm thuộc dương và can Quý thuộc âm là thuận chiều. Ngoài ra, trong Thập Thiên Can không những chỉ có can Nhâm  là  dương, mà  còn có các can dương nữa là : Giáp, Bính, Mậu, Canh. Do vậy, trong Thập Thiên Can có năm can dương đã dẫn và năm can âm là : Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý.  Về hành trong Thập Thiên Can chúng nó cũng đi từng cặp với nhau.

Xin trích dẫn nhắc lại (trang 138 và 1523) bảng kê :

1.- Thập Thiên Can đối với Ngũ Hành

Thiên Can

Hành Gì ?

Giáp, Ất

Mộc

Bính, Đinh

Hỏa

Mậu, Kỷ

Thổ

Canh, Tân

Kim

Nhâm, Quý

Thủy

 

Do vậy, cặp can Nhâm, Quý chỉ là một trong năm cặp của Thiên Can mà thôi.

Hơn nữa, mỗi tuổi phải kết hợp Can và Chi, ví như năm Nhâm Thìn là năm được kết hợp can Nhâm và chi Thìn (nên nhớ rằng can dương kết hợp với chi dương và can âm kết hợp với chi âm).

Muốn biết năm tuổi nào đó tốt hay xấu, thì chúng ta phải phân tách về ngũ hành xem coi có thuận hạp hay khắc kỵ không? Có như thế mới chánh xác và trung thực của vấn đề.

2.- Thập Nhị Địa đối với Ngũ Hành 

 

Địa Chi

Hành Gì ?

Thân, Dậu

Kim

Dần, Mão (Mẽo)

Mộc

Hợi, Tý

Thủy

Tỵ, Ngọ

Hỏa

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi

Thổ

 

Vậy tuổi phái nam có can Nhâm

gặp chi Thìn tốt hay xấu ?

 

 Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành thì :"Thổ khắc Thủy" cho nên chi Thìn thuộc hành Thổ khắc kỵ can Nhâm thuộc hành Thủy hay nói khác đi can Nhâm thuộc hành Thủy bị chi Thìn thuộc hành Thổ khắc kỵ.

Người có tuổi Can Chi tương khắc nhau, thì xem như tuổi Không Tốt.  Do vậy, chúng ta kết luận rằng dù người phái nam có can Nhâm, mà kết hợp với chi không thuận hạp ngũ hành để đưa đến tương sanh, thì vẫn là tuổi Xấu như thường. Nếu người phái nam có can Nhâm hay can dương nào khác được kết hợp với chi được tương sanh ngũ hành, thì xem như tuổi đó sẽ là tuổi Tốt, ví như tuổi Nhâm Dần. Bởi vì, tuổi này có can Nhâm thuộc Thủy và chi Dần thuộc Mộc, căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành thì được tương sanh : "Thủy sanh Mộc"   

                   Từ đó, chúng ta kết luận rằng : "Nam Nhâm, Nữ Quý" chỉ có ảnh hưởng đúng về Dương Âm mà thôi.

                   Đối với tuổi Quý dành cho phái nữ, chúng ta cũng dùng phương thức trên để phân tách một cách khoa học chánh xác như tuổi Nhâm dành cho phái nam vậy.

                   Viết đến đây, tôi cũng nhớ có người nói : "Người nào có tuổi can Mậu" thì tương lai có đời sống nghèo nàn, vì chữ Mậu = Không. hoặc là : "Người nào có tuổi can Canh" thì tương lai có đời sống đầy lo lắng và cô độc, vì chữ Canh Cô mà ra.           

Đó là, sự đón mò thiếu khoa học, có tánh cách dị đoan không thể chấp nhận được. Nếu những người phái nam có can Quý hay can âm và những người phái nữ có can Nhâm hay can dương, thì những người đó bị dương, âm trái ngược nhau vì không thuận chiều, thì đưa đến đời sống trong tương lai không thể tốt hơn những người có can thuận chiều được. 

Nhân đây, xin trích dẫn các năm Rồng trong thế kỷ 20 như sau :

Giáp Thìn  =  từ thứ ba      16-02-1904 đến thứ sáu     03-02-1905

Bính Thìn  =  từ thứ năm   03-02-1916 đến thứ hai     22-01-1917

Mậu Thìn   =  từ thứ hai    23-01-1928  đến thứ bảy    09-02-1929

Canh Thìn  =  từ thứ năm   08-02-1940 đến chủ nhựt  26-01-1941

Nhâm Thìn =  từ chủ nhựt  27-01-1952 đến thứ sáu     13-02-1953

Giáp Thìn   =  từ thứ năm   13-02-1964 đến thứ hai     01-02-1965

Bính Thìn   =  từ thứ bảy    31-01-1976 đến thứ năm   17-02-1977

Mậu Thìn    =  từ thứ tư      17-02-1988 đến chủ nhựt   05-02-1989

Canh Thìn   =  từ thứ bảy    05-02-2000 đến thứ ba      23-01-2001

Nhâm Thìn =  từ thứ hai    23-01-2012 đến thứ bảy     09-02-2013

 

                    Dân tộc và đất nước Việt Nam chúng ta đối với Rồng rất mật thiết với nhau, bằng chứng là dân tộc chúng ta giòng giống Rồng Tiên, theo truyền thuyết, Cha là Lạc Long Quân (gốc Rồng), kết hôn với Mẹ là bà Âu Cơ (Tiên nữ), rồi sanh bọc trăm trứng, từ đó, chúng ta xem như giống Rồng Tiên. Nếu chúng ta nhìn hình thể đất nước Việt Nam, từ Bắc chí Nam, với hình cong chữ S, không khác con Rồng nằm uốn khúc dọc theo bờ biển và có các địa danh như : Long Đỗ (Rún Rồng), Long Biên, Thăng Long (tên thủ đô Việt tộc vào thế kỷ thứ 6), Vịnh Hạ Long (đây là kỳ quan thế giới được công nhân), Bình Long, Phước Long, Long Thành, Long Khánh, Long Hải (bãi tấm đẹp ở Vũng Tàu), Long Bình, Long An (nếu ai đi trên đường từ Sàigòn về Miền Tây sẽ qua cầu Bến Lức thuộc Tân An ngày xưa, nằm trong lãnh thổ Long An), Long Hồ (nằm trong lãnh thổ Vĩnh Long), Long Mỹ (nằm trong lãnh thổ Chương Thiện), Thới Long (đây là một xã của Quận Ô Môn, Tỉnh Cần Thơ ngày xưa, tức Hậu Giang ngày nay, nơi đây có trồng nhiều cây trái danh tiếng nhứt là Cam, Bưởi...).

Ngoài ra, ở miền Tây có hai địa danh mang tên Long, trở thành tỉnh lỵ, không những có những cây trái ngon ngọt.... Đó là, Vĩnh LongLong Xuyên.

Đất nước chúng ta trải dài từ Bắc xuống Nam, bởi con Rồng xuyên Việt. Đó là, sông Cửu Long, bởi vì  con sông nầy phát nguồn từ cao nguyên xứ Tây Tạng, có chiều dài hơn 4000 cây số, chạy qua các nước Trung Hoa, Lào, Cao Miên (Campuchia), nơi đây có một nhánh thông vào biển hồ Tonlé Sap, rồi  xuôi về Nam bằng hai nhánh là Tiền Giang và Hậu Giang thuộc miền Tây Nam Phần Việt Nam, còn gọi là sông Bassac, cuối cùng thoát ra bằng 9 cửa sông, cho nên có tên gọi là Sông Cửu Long (tức 9 con Rồng).

Như chúng ta đã biết, dân tộc Việt Nam là giống Rồng Tiên, cho nên đất nước Việt Nam cũng kết tạo từ miền Bắc với thủ đô Việt tộc Thăng Long, với kỳ quan thế giới Vịnh Hạ Long tức cha là Rồng, còn mẹ Tiên tức ở địa danh rất đẹp có đồi núi, có sông biển hùng vĩ và đầy thơ mộng. Đó là, Hà Tiên, thuộc tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang).

Nhân dịp bước sang năm mới Mừng Xuân Nhâm Thìn 2012, xin kính chúc quý bà con đồng hương mọi nhà làm ăn phát đạt như Rồng bay và sức khoẻ thất đồi dào, mọi sự hạnh thông như ý là mừng.

Hàn Lâm NGUYỄN-PHÚ-THỨ

                  Mừng Xuân Nhâm Thìn 2012