Thử đọc lại truyền-thuyết Hùng-Vương
(18):
Phần 5: Dấu vết Mẫu-Hệ trong xă-hội Việt
Nguyên Nguyên
Một trong những h́nh-dung-từ được giới khoa-học, nhất là toán-học, ưa dùng nhất,
đối với một nguyên-lư hay định-luật mới, chính là 'robust', mang nghĩa nôm-na:
chắc nịch, cứng cáp, vững chải. Trên phương-diện một lư-thuyết, như lư-thuyết về
nguồn-gốc dân-tộc Việt-Nam ở đây, lư-thuyết đó chỉ được xem là khá 'robust' (chứ
không phải 'robot') khi nó được đem ra lư giải càng nhiều sự-kiện hay hiện-tượng
lịch-sử, văn-hoá, càng tốt. Dưới một góc độ khách-quan, hay tương-đối hoặc 'cố-gắng'
khách-quan.
Thông thường, một lư thuyết được dàn-dựng và hiện-thức dựa trên quan-sát một số
những sự-kiện chung quanh một đề tài chính. Xong rồi, phân-tích và tổng-hợp.
Dùng những phương-pháp lư-luận càng khách-quan càng tốt. Dọc đường, nếu bắt gặp
thêm một sự-kiện nào khác, lại phải lôi khía cạnh nào đó của lí-thuyết để thử
lí-giải sự-kiện đó. Khó khăn nhất có lẽ ở chỗ gần như bất kỳ hiện-tượng nào cũng
đều có lí-giải sẵn rồi. Nhưng cũng rất may, đa số những lí-giải có sẵn, bây giờ
- trong thời đại internet - nếu nh́n lại rất dễ nhận ra những điểm lổng chổng
trong đó.
Thí dụ: Ngày trước, các học giả Tây phương ưa đưa ra lí-do 'một xă-hội nông-nghiệp'
để giải thích hiện tượng một số xă hội ưa dùng nhiều từ khác nhau để gọi,
Cô-Chú-Bác, như: Bác, Chú, Thím, Cô, D́, Cậu, Mợ, v.v. - trong khi một số xă hội,
đă 'công-nghiệp-hoá' nhất là xă hội Tây Phương, thường thường lại chỉ phân biệt:
Uncle (Chú / Bác) và Aunt (Cô) mà thôi. Một khi đă nhận-thức rằng một trong những
lư-do đưa đến xáo-động lịch-sử ở Đông Nam Á, kể cả Trung Hoa, chính là sự điều-chỉnh
từ mẫu-hệ sang phụ-hệ của nhiều cộng đồng khác nhau, ta hăy thử kiểm-chứng một
thứ lư-giải mới về: 'bà con Cô Bác' dựa trên Mẫu hệ và Phụ hệ. Đặc biệt để ư,
trong xă hội theo Mẫu-hệ, vai tṛ người Cậu (anh hay em của Mẹ) rất quan trọng.
Nhất là trong vấn đề thừa kế [1]. Tức những thứ từ như Chú / Bác không quan trọng
bằng Cậu. Và ngược lại, trong xă hội Phụ-hệ, 'Cha - Chú' thường được dùng hơn 'Cậu'.
Tra cứu các từ Nôm gốc Hoa Nam, nơi chúng tôi cho rằng phần lớn chỉ dần dần chuyển
sang Phụ-hệ sau khi nhà Hán nhất-thống sơn-hà, chúng ta có thể thấy đầy đủ các từ
mang phát âm giống hệt tiếng Việt, như: Cậu [舅 ], Mợ [妭 / 嚊 / 妺 / 母 ] [2], D́ [姨
], Dượng [姻 / 丈], Cô [姑 ], Thím [嬸 ], Chú [叔], Bác [伯].
Kiểm chứng với một tự-điển tiếng Chăm [3], nơi c̣n giữ Mẫu hệ cho đến khi giải-thể,
ta thấy các từ vựng có vẻ nhấn mạnh, hay phân biệt, hơn về vai vế người Cậu: Cậu
= [wa], Cậu (anh Mẹ)= [wa likey], Cậu (em Mẹ)= [cêy] {mang âm rất giống 'cậu'},
D́ (chị Mẹ)= [wa kamêy] (dùng chung 'wa' như 'cậu'}, Cô / D́= [mi?] hoặc [nay],
Chú (em Cha)= [mi? cêy], Bác= [wa], hay rơ hơn: [wa po]. Xin để ư hai điểm: (i)
Chữ chính dùng chỉ 'cậu' là: [wa] (anh) và [cêy] (em). Biến thêm, và dựa vào hai
từ gốc [wa] và [cêy], sinh ra: [wa likey] => anh mẹ (Cậu), [wa Po] => anh Cha (Bác),
và [mi? cêy] {miq cêy} => em cha (Chú). (ii) Bởi vai-vế 'cậu' (trong mẫu hệ) rất
'bảnh', nên tiếng Việt dùng luôn để xưng hô 'người em' hay 'bạn trẻ' được 'quư
trọng', bằng => cậu (em), hay 'cậu công tử'. Hoàn toàn có tương đương trong tiếng
Chăm: patra-patri => cô cậu. Tiếng [nay] mang nghĩa 'Cô' cũng được dùng như 'cô'
trong xưng hô: Mademoiselle hay Miss [4].
Vấn-đề mẫu-hệ c̣n được phản ánh trong văn-hoá hay văn-minh Đông phương, qua h́nh
ảnh Phật Bà Quan Thế Âm. Có nhiều giả thuyết về gốc gác của Phật Bà Quan Âm (Kwan
Yin) [5]. Đại khái: (i) Một số giả thuyết cho rằng người Hoa Nam biến một Ông Phật
từ bi là Avalokitesvara sang phái nữ thành Phật bà Quan Shi Yin (Quan Thế Âm). (ii)
Giả thuyết khác cho rằng Phật Bà chính là h́nh ảnh của một công chúa nước (Ngô)
Việt của Câu Tiễn (về sau) ở vùng Chiết Giang vào khoảng năm 700 TCN, mang tên
Miao Shan. Chính công chúa Miao Shan đă chuyên cứu vớt, giúp-đỡ thủy thủ có tàu
bè bị đắm ngoài khơi quần đảo Chusan gần khu Chiết Giang ngày nay. Tức Phật Bà
'xuất-hiện' trước tiên tại miền Hoa-Nam, một cứ-địa, hay hậu-tuyến, lớn cuối
cùng của chế-độ mẫu-hệ.
Nh́n vào văn-minh Tây Phương, chúng ta sẽ khó tránh khỏi để ư đến sự trùng hợp
giữa những xă hội Âu Châu sinh sau đẻ muộn [6], sau thời mẫu-hệ chuyển sang phụ-hệ
rất lâu, với phong trào gầy dựng nên đạo Ki-Tô Tin Lành sau thế kỷ 15 ở Âu Châu.
Đặc biệt ở chỗ, vai tṛ Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, theo tinh-thần của thần-học, ở
đạo Tin-Lành, không quan-trọng như trong khối Công-Giáo hay Chính-Thống. Cũng bởi
đa số xă-hội hay các quốc gia Âu Châu chỉ được thành lập sau Giáng Sinh, tức rất
muộn và nhảy vọt qua khỏi thời mẫu-hệ vào lúc 'dựng nước', nghiên-cứu của
Tây-phương về vấn-đề mẫu-hệ xưa nay vẫn mang tính 'cho có lệ' và rất 'lơ là'.
Từ những ghi nhận tổng-quan về Mẫu hệ và Phụ hệ kể trên, ta có thể thấy chuyện 'cơm
không lành canh chẳng ngọt' của cặp vợ chồng Âu-Cơ & Lạc-Long-Quân [7] có lẽ bắt
nguồn từ xung đột giữa Mẫu-hệ và Phụ-hệ. Xung đột giữa hai thứ 'luật-tục' hoặc
'tín-ngưỡng xă hội', khác nhau, ở thời ấy. Không biết bà Âu và ông Lạc đă làm thủ-tục
ly-hôn tại toà-án gia-đ́nh nào, nhưng kết quả của phán-xét toà-án đó xem ra hết
sức tốt, và có vẻ không thua bất cứ một toà gia-đ́nh nào ở thế-kỷ 21. Phán-xét
đó, hay sự đồng-thuận phân chia tài sản của bà Âu ông Lạc, trước lúc chia tay,
cũng lại rất phù hợp với phong-tục tập-quán của cả hai bên. Mẫu-hệ có thể xem
như tượng trưng của T́nh-Thương hay T́nh-Cảm. Phụ-hệ, của Lư-Trí và Thực-Tế. Hai
đối cực của một thứ Nhị-nguyên. Một âm, một dương. Việc dung-hoà hay cân-bằng giữa
hai đối cực của Nhị nguyên này, có lẽ là một điều kiện thiết-yếu cho hạnh-phúc
cuộc đời. Thật ra, lối chia tay của bà Âu ông Lạc đă vượt ra khỏi cái ṿng lẩn
quẩn của thứ Nhị-Nguyên khác (Thắng-Thua), phản ánh qua mô h́nh đối-địch của hệ-thống
kiện-tụng dân-sự ở các quốc-gia kiểu Anh-Mỹ. Tức trong cuộc chia tay kiểu đó,
không có người thắng hoặc người thua. Dưới góc độ biểu-tượng hai khối người,
chia tay đó sẽ không mang tính vĩnh-viễn, và luôn có cơ hội tái-hợp với nhau.
Xin trở lại với tính 'cứng cáp' của lư-thuyết. Trong suốt 18 bài qua, chúng ta
đă thử dùng lư thuyết để lư-giải cho một số các sự-kiện hoặc hiện-tượng xưa nay
tương đối chưa được hoàn-toàn sáng tỏ. Chúng ta đă xem qua:
- Gốc gác tháng Giêng => tháng Dần (Dzần) [8]
- Một bộ phận Việt tộc quan-trọng có gốc Hẹ, mang họ Lạc của Lạc Long Quân;
- Tộc người nhà Lư và chuyến 'lưu-vong' trở về quê cũ của các tôn thất;
- Trên Bộc trong dâu;
- Người Triều Tiên, người Hẹ (gốc du mục), và món mộc tồn;
- Chữ Việt (xưa)丂 = 'cái ŕu', Việt (Mễ)粤 = 'dân trồng lúa', Việt (Tẩu)越 = 'dân
du mục';
- Gốc gác 12 con Giáp - ảnh-hưởng các phương ngữ Bách-Việt;
- Màu trắng chính là màu Trăng, hay màu Gạo (tiếng Thái) [10]
- Quan-sát giao-tác chủng tộc Hoa Việt & Việt Hoa;
- Ảnh hưởng của những tiền-đề xưa cũ;
- Ảnh hưởng chủng Thái cổ;
- Tương quan 'Họ & Ta' đối với phiá Bắc, Nam và Tây;
- Người Việt bản-địa tối cổ: Môn-Khmer;
- Văn hoá Sa Huỳnh: di-sản người Việt bản-địa, tộc Môn-Khmer;
- Văn hoá trống đồng (Đông Sơn): Di-sản người Việt bản-địa tộc Thái-cổ;
- Văn-hoá Hoà B́nh: Di-sản người Việt (Mường) thuộc chủng Thái-cổ;
- Nguyên lư Heisenberg: Tập-trung chỗ nầy, lu mờ chỗ kia;
- Biên-giới fuzzy & Ư-niệm NƯỚC của các nước ở Đông Nam Á vào thời cổ đại;
- Nước Sở: cái nôi. Sông Bộc: cái rốn;
- Nhóm ngữ Việt-Mường và hai nhóm di-dân Âu & Lạc;
- Gốc gác chữ Nôm: Hoa-Nam, Thái, Môn-Khmer và Đa-đảo;
- Tiếng Hán-Việt mang xuất-xứ từ những phương-ngữ Bách-Việt;
- Thứ tiếng viết theo a-b-c, được kư-âm cho một và chỉ một phương-ngữ mà thôi;
- Các thanh-điệu (thinh) trong tiếng Việt. (Về nhạc ru con, xem Trần Quang Hải
[11]).
- Nguồn-gốc thinh dấu Ngă (~) trong tiếng Việt;
- 18 đời Hùng Vương = 18 đời nhà Hạ = 18 đời Bai-dal ở Triều-Tiên;
- Mâu-thuẫn giữa Mẫu-hệ và Phụ-hệ bắt đầu bằng cuộc ly-hôn giữa bà Âu ông Lạc;
- Những biệt-sắc của người Việt cổ: Nhuộm răng, xâm ḿnh, xâm trán, v.v. ;
- Xem xét và gạt bỏ 'thuyết Hùng Vương là nhà ảo thuật ở Gia Ninh';
- Danh nhân Trung-Hoa mang ḍng máu Việt;
- Loạn-lạc và chạy giặc ở Trung Hoa, qua nhiều thời đại;
- Giặc Hoàng Cân và Hoàng Sào;
- Thần Nông, Xy Vưu và Hiên Viên;
- Quan-sát những định-nghĩa, ư niệm về quốc-gia hay 'Nước';
- v.v.
Sau đây, xin thử xem lại một số điểm lổng chổng khác thuộc nhiều sự-kiện lịch-sử.
Người Đa-Đảo
Ngộ nhận thường gặp nhất có lẽ là người Đa đảo ngày xưa chỉ có mặt ở miền Trung
nước Việt. Ngộ nhận này thường được hỗ-trợ bởi một lư thuyết khá fuzzy, khá
lùng-tùng-phèo, là người Chăm mang gốc chủng-tộc Malayo-Polynesian (Mă-Lay Đa-đảo).
Thật ra cả người Đa-đảo và người hắc-nụy Négrito, đă hiện diện khắp miền gần biển
ở Hoa Nam và Đông Nam Á. Thêm một hai thứ phân-loại cần nhớ: Đa-đảo Polynesians
khác với Hắc-đảo Melanesians. Đa-đảo thường kể đến: Tahiti, Tân Tây Lan (Maori),
Fiji, Hawai'i, Tonga, Samoa, Easter Island, Vanuatu, New Guinea, v.v. Hắc đảo, gồm
cả dân hắc-nụy Negrito, thuộc nhóm da đen tập trung ở đảo Celebes (Indonesia) và
Papua New Guinea, cũng như thổ dân ở Bắc và Đông Bắc nước Úc. Kéo dài và gối đầu
với nhiều quần đảo chứa dân Đa-đảo, ở phía Nam Thái-b́nh-Dương. Nhiều dân bản địa
ở các nước Đông Nam Á, kể cả Việt-Nam, mang dấu vết của hai nhóm Đa-đảo và Hắc-đảo.
Đa-đảo có vẻ chiếm đa số đối với Hắc đảo.
Việt Tiếng Đa Đảo Việt Tiếng Đa Đảo GHI CHÚ
nó / y ne, em, ia ni, nầy eni, lenei tiếng Thượng Hải [yi] = nó
tôi au (~ [ai]) ai? ?o-ai?, wai ai =>ai đó?. [ai] Hakka = tôi
sữa susu ở đâu? ?o fea [?] tắc-âm thanh-môn (màng họng)
rộng răi raraba tại đâu? tei hea rộng <= [kwong] QĐ / [ruan] QT
của tao ta?u hoặc (hay) po?o [huo]-QT 和, [hwa] Hán-Hàn
hôm nay he?aho ni thung-lũng te-le?a [?] giữa [uh]&[oh] trong [uh-oh]*
gỗ (cây) kau, ?akau học a?o âm [g](gỗ) ~ [k].[gon]He/ [kan]PK
muỗi - mosquito namu mạnh malosi, maita?i + muỗi <= [mu] Khmer, [mok] M-L
+ mạnh => [man]QĐ / [men]Hẹ 暋
hoà-b́nh hau vách banis, pa byách (Nam) = biak (Hẹ)
hỏi (câu) fehu?i vế (đùi) vae bắp vế. [byế]= [bei]QĐ. [dwl] M-K
lời (nói) lea thêu tuitui, thu?i [zeoi]QĐ 綴 / [zyut], [tseot]QĐ 絀
áo ?aofutino thay đổi t(h)aui ?aofu ~ 'âo phục' hay 'y phục'
pḥng potu chó (má) kuli, maile kuli <=> kuri <= kẩu / Maa (Thái)
trễ, muộn taere, tomui mưa ua-timu mưa = vũ = yũ = ôh (ô = dù) => ua
xinh(đẹp) sini, msin đường xá sala Chăm: salan, zalan. M-K: dza, ka-la
cười kata tù trưởng turaga tù => tộc => [zu] quanthoại 族
tí (nhỏ) iti cái ni (nầy) ko eni tí <= [si] Ngô-Việt 細
uống inu cá ika uống => [iong]Ngô-Việt {dùng}
đúng donu, dodonu cỏ (grass) co [kou] Phuckien 苟
ăn ?ai, ?amu có e tiko, ko there are: koe <= có (hai người lạ)
tắm tă?ele cứng kaukaua [kong] Phúckiến (Mân) 剛
đậu (xe) tau người ta taNGAta [ngin]Hẹ / [ngai]Mường
cua (con) kuka mặt mata mắt = cũng là 'mata'
khác(đổi) duidui, kehe tới (đến) tae, taunu? [to]Ngô 到 & [ta?]Ngô 達
Bảng I. Đối chiếu một số từ cơ bản Việt và Đa-đảo. Các chữ tắt: QT= quan-thoại,
QĐ=Quảng Đông, N= Ngô-Việt, M-L= Mă-Lai, M-K= Môn-Khmer, [?]=tắc-âm thanh-môn -
Âm sinh giữa [uh] và [oh] khi đọc nhanh [uh-oh].
Hiện vẫn có nhiều lư thuyết khác nhau về nguồn-gốc của dân Đa-đảo [13]. Có thuyết
cho rằng nguồn-gốc đặt tại Taiwan. Thuyết trái ngược, lại cho Taiwan là điểm cuối
của những đợt di dân, chứ không phải khởi điểm. Cũng có thuyết cho gốc-gác nằm ở
phía Đông nước Indonesia. Chung quanh khu đảo chứa 'di-sản' đồ gốm Lapita. Và
cũng có thuyết cho rằng bờ biển phía Tây của Nam Mỹ mới là điểm gốc. Thuyết Nam
Mỹ hiện nay là thuyết yếu nhất. Nhận diện người Đa-đảo trong ḷng tộc người Việt
cổ ở đây tập trung ở hai điểm: (a) Thói tục kị húy; và (b) Giống nhau về một số
từ vựng và văn phạm giữa tiếng Việt và các thứ tiếng Đa đảo.
Kị húy trong tiếng Tahiti rất giống kị húy tiếng Việt: Tránh dùng hay kêu tên
nhà lănh đạo, và thay thế bằng một từ khác mang âm gần giống. Thí dụ, [Tu] tại
nhiều quần đảo mang nghĩa 'Đứng' (to stand), nhưng trong tiếng Tahiti phải nói [Ti?a]
hay [Tiqa] tránh tên 'vua' Tū-nui-’ē’a-i-te-atua. Giống như ở xứ Đại Việt, người
ta nói 'lợi' thay v́ 'lị', cố tránh tên vua Lê Lị tức Lê Thái Tổ [14]. Dần dà về
sau, [lị] biến mất và được thay thế thường trực bởi [lợi]. Hay như 'Huỳnh' dùng
thay cho họ 'Hoàng' kị tên chúa Nguyễn (Hoàng), đặc biệt ở Đàng Trong.
Bảng I (theo [16]) cho thấy rất nhiều từ Đa-Đảo mang cùng gốc với tiếng Việt.
Nhiều từ mang âm giống khá ḱ lạ. Như: tới (đến), con cua, đậu (xe), ăn, uống,
tí (nhỏ), (của) tao, gỗ (cây), sữa, cá, cỏ (grass), có (there is, il y a), vế (bắp
vế), xinh (đẹp), v.v.
Về văn phạm cú pháp, các tiếng Đa-đảo có những tương đồng như sau với tiếng Việt:
Hai thứ nhóm chữ phân biệt 'đại danh từ ngôi 1 - số nhiều': 'Chúng Ta' (bao gồm)
và 'Chúng Tôi' (phân cách) y như tiếng Việt và các phương ngữ phía Bắc Trung Hoa.
Đặc biệt các thứ từ Đa-đảo chỉ 'Chúng Tôi' (không kể đến 'người nghe') thường
mang âm [tau] giống như 'tao' tiếng Việt => tụi tao, chúng tao, ... Các từ chỉ 'chúng
ta' (bao gồm mọi người) thường dùng âm [ma] có vẻ liên hệ gần xa với tiếng Việt
'ḿnh': tụi ḿnh, chúng ḿnh, ...
Không phân biệt số ít - số nhiều cho danh từ: Một bạn gái / Nhiều bạn trai.
Các 'Th́' của động từ mang sắc thái y hệt Việt ngữ. Thí dụ, trong tiếng Samoa:
- đă đi= na alu, - vừa đi= ua alu, - đang đi= e alu, - sẽ đi= ole a alu. Đặc biệt
nhiều thứ tiếng có động từ có âm giống [Có] tiếng Việt và cách dùng cũng y như 'there
is / there are' hay 'il y a' tiếng Tây: Có= Koe (Tonga), E Tiko (Fiji). Có một
cái bị mà thôi= Koe kato pe ia 'e taha (Tonga). Có một chiếc xe hơi (ô-tô)= E
tiko e dua na motoka (Fiji).
Thể mệnh lệnh cũng khá giống tiếng Việt: Đặt những 'lệnh từ' như 'hăy', 'đừng',
'xin' trước động-từ. Phân biệt luôn 'mệnh lệnh' hoặc 'đề nghị nhẹ nhàng'. Thí dụ
tiếng Tahiti: Eiaha e parahi= Đừng có ngồi (mệnh lệnh) // Eiaha parahi= Xin chớ
ngồi (ghế c̣n ướt). Tiếng Samoa, dùng [se'i] trong cách nói nhẹ: Ta đi hỉ? =>
Se'i Ta alu.
H́nh dung từ thường theo sau danh từ như trong tiếng Việt: người đẹp. Samoa:
le tamaloa malosi = người đàn ông mạnh; le fafine umi= người đàn bà cao. Trong
tiếng Fiji: na sala balavu= con đường xa / đường xá xa xôi. Để ư: [na] là mạo từ,
con / cái. [sala] cho ra âm tiếng Việt [xá] => đường xá. 'Xá' trong 'đường xá'
cũng giống tiếng Chăm: [salan] hay [zalan] hoặc Môn-Khmer: [dza].
Từ nhận xét tổng-quát về các thứ tiếng Đa-đảo như trên, chúng ta có thể đúc-kết
một lư-giải quan-trọng theo dạng câu hỏi với 'nhiều lựa chọn giải-đáp' như sau:
Người đa-đảo mang gốc-gác tự nơi nào? Đáp:
A. Tộc người đa-đảo Polynesian là một thứ tộc Việt bản-địa lâu đời, tức một tộc
có sẵn trong ḷng tộc người Việt Nam, xuất-xứ từ những hải đảo Thái B́nh Dương;
HOẶC:
B. Người đa-đảo chính là người Việt cổ, mang danh 'thuyền-nhân đầu tiên' di tản
bằng tàu bè chạy giặc từ miền duyên hải, ra sinh sống ở những hải đảo xa xôi,
với mục đích chính: duy-tŕ và bảo-vệ tập-tục và lối sống cổ truyền của tổ-tiên
[20]; HOẶC:
C. Cả hai câu giải đáp A và B, ở trên.
Xin phép ghi nhận: Nghiên cứu tiếng Việt (hay ngay cả tiếng Hoa) từ xưa đến giờ
luôn luôn bỏ sót ảnh-hưởng của các tộc người Đa-đảo. Theo sát khuynh-hướng của
các sử-gia hay nhà ngôn-ngữ Trung Hoa. Hoặc chờ đợi các khám-phá của người
Âu-Mỹ. Ở góc cạnh này, và từ nhận xét về đối chiếu các tiếng Đa-đảo với tiếng
Việt như trên, chúng ta có thể đánh một dấu hỏi về cách phân xếp các nhóm
ngôn-ngữ như Nam-Á hay Nam-Đảo, của các học-giả Tây-phương.
Họ Lê hay họ Ly?
Từ lúc bắt đầu viết loạt bài Hùng Vương này, chúng tôi vẫn mang một thắc mắc khá
lẩm cẩm: Phải chăng họ Lê, trong một số phương-ngữ, có thể được phát âm như Ly?
Và một số nhân vật đáng lẽ mang họ Lê lại được người sau viết nhầm ra thành họ
Lư, bởi chỉ cần thay đổi thanh-điệu (thinh) chữ 'Ly' [17] - thêm dấu sắc kiểu
quốc-ngữ - 'Ly' sẽ biến ra 'Lư'. Thí dụ: Lư Phật Tử, theo sách Tàu dẫn trong
[18], mang tộc [Lái], tức [Hlai] theo cách phát âm của họ. Tộc [HLai] chính là
tộc Lê (quan-thoại: [Li]), một trong hai tộc người bản-địa chính tại Hải-Nam.
(Tộc kia: Miêu tộc). Phải chăng họ Lư của Lư Phật Tử, thật ra chính là Lê, đọc
theo một phương ngữ nào đó, thành ra ‘Ly’ rồi sang ‘Lư’?
Theo thiển ư, nếu hiểu rơ được biến-chuyển giữa [Lê] và [Ly] chúng ta có thể
tháo ra thêm được một điểm gút mắt khá lớn trong câu chuyện truy tầm cổ sử Việt
Nam.
Trước hết xin để ư:
- Họ 'Ly' là một họ rất phổ thông trong cộng đồng người Dao (thuộc nhóm Miêu-Dao
tức Hmong-Mien) {xem [15]};
- Nhóm Miêu-Dao, xưa nay vẫn được xem thuộc khối Cửu Lê, phát âm theo quan-thoại
chính là [Jiu Li] {tức Lê <=> Li};
- Âm [ê] trong tiếng Việt phiên thiết từ tiếng 'Tàu' có thể cho ra dạng âm [i]
=> Tác-giả bộ 'Thủy Kinh Chú' được phiên thiết [21] như 'Lệ Đạo Nguyên'. Gần đây
bản dịch mới 'Thủy Kinh Chú' [22] viết lại thành 'Lịch Đạo Nguyên': [Lệ] <=>
[Lịch].
- Chữ 'Lệ' 麗 (dạng đơn giản: 丽) trong 'mỹ lệ', 'tráng lệ',... mang nghĩa 'đẹp',
cũng thường được 'phiên thiết' sang quốc-ngữ là 'Ly'. Phát âm [le] cho từ 丽 này
chính là âm của khối Mân Việt (Phúc Kiến). Hakka, quan-thoại và Ngô đọc theo
[li], trong khi Quảng-Đông đọc [lai] hay [lei], gần với [lê] như Mân Việt.
- Tương tự họ Lê 黎 đọc như 'Lê' chính là theo phát âm [Le] của người Việt gốc
Mân (Phúc Kiến). Hakka, Ngô và quan-thoại đọc [Li], trong khi Quảng-Đông cũng
như một vài nhóm Hakka phát âm như [Lai] hay [Lei]. Người 'Lê' (Lê tộc) ở Hải
Nam tự gọi họ là [HLai]. Để ư, phát âm phương-ngữ giống căn nguyên nhất do ở thứ
tộc xử dụng đă sống gần gũi với 'khổ chủ' nhất. Thí dụ: 'Ngựa' xuất phát từ khu
vực Mông Cổ. Người Mông gọi đó là [Mohr] và người Tàu Hoa Bắc đọc gần giống [Ma]
=> mă. Tương tự, người Hakka sống gần Miêu-Dao, hay các tộc thuộc Cửu Lê, nên họ
gọi 'họ Lê' vừa giống thứ Lê 'Miêu-Dao' là [Li] (=> [Ly]), vừa giống thứ Lê
'Môn-Khmer' là [Lai] y hệt như chính người [HLai].
- Tiếng Hán ‘Ly’ hay ‘Lê’ 黎 cũng mang nghĩa ‘Đen’ (màu đen). Tộc 'ly dân' [li
min] chính là tộc da đen, gần đây có giả thuyết, liên kết tiếng Hán và Manding,
cho rằng một thứ tộc thủy tổ từ Mandé (Phi Châu) của chủng Hoa Hạ [13];
- Trái lê (pear) viết theo Hán tự: 梨 , lại có phát âm Việt giống Quảng Đông
nhất: [lei]. Hakka, quanthoại và Ngô đọc [li], trong khi Mân đọc trại ra [lai].
Một trang mạng cho biết họ Lê cũng dính dáng đến nghĩa 'người trồng cây lê' -
nhưng chữ 'lê' lại lẫn lộn với 'ly' và họ Lư [32]. C̣n nhớ ngày trước có tên gọi
'trái xá lỵ' cho quả Nashi Pear theo tên gọi ngày nay?
- Họ LƯ 李 của Lư Công Uẩn vẫn nằm trong cái ṿng lộn xộn này. Hakka, quan-thoại,
Ngô và Mân đều đọc theo [li] tuy thanh-điệu (tone) hơi lộn xộn lẫn lộn với phát
âm họ Lê (hay LY - không dấu) trong tiếng Việt. Chỉ có Quảng Đông lại đọc trệch
thành [lei] giống [lê]. Bởi một ông vua nhà Lư có cho lập đền thờ Xy Vưu (xem
[18]) và tôn-thất nhà Lư có vượt biên trở về cố quận ở khu Sơn-Đông & Cao-Ly
(địa bàn xưa của nhóm Cửu Lê, trong đó chủ lực là Hakka và Miêu-Dao) - nên chúng
ta có thể cho phát âm Hakka là phát âm nguyên thủy của [Lư].
Như vậy có thể kết luận: họ Lê có phát âm nguyên thủy chính là [Lai] khá gần
[Lê] - dành cho thứ Lê tộc gần chủng Môn-Khmer - phía Hải Nam và Chiêm Thành. Lê
cũng có phát âm kiểu Hakka và Miêu-Dao là [Li] (tức họ Ly, người Dao) - cho một
thứ tộc Lê (Ly) khác thuộc nhóm Cửu Lê, hay Cửu Ly [Jiu Li]. Ngoài ra tộc Lê
thuộc khối Cửu Lê cũng có thể đă được dùng để chỉ chủng Thái-cổ. Trong trường
hợp này có thể phát âm xưa nghiêng về [Lai] tức gần 'Lê' hơn 'Ly'.
Nói một cách khác: Họ Lê cũng như nhiều họ khác, có thể mang nhiều gốc khác
nhau.
• Gốc 'Lai' như người bản-địa ở Hải Nam - thuộc hệ Môn-Khmer: (a) Lư Phật Tử
(thật ra, rất có khả năng: Ly (hay Lai) Phật Tử). (b) Lê Hoàn, tức Lê Đại Hành.
• Gốc Thái-cổ, rất gần với người Mường: B́nh Định Vương Lê Lợi.
Rất tiếc chúng tôi chưa hề đọc được lư giải của Nhượng Tống, dịch-giả đầu tiên
của bộ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, cho rằng người anh hùng đất Lam Sơn mang gốc tộc
Mường (xem [21]). Tuy nhiên, chúng tôi xin mạo muội tŕnh bày những lư do sau,
gạn lọc từ bản dịch mới của bộ sử Ngô Sĩ Liên [18], để chứng minh người anh hùng
đất Lam Sơn, rất có khả năng mang huyết thống chủng Thái-cổ:
a) Tổ tiên 3 đời trước đă chọn đất Lam Sơn, thuộc Thanh Hoá, làm quê hương. Đất
Thanh Hoá là nơi tập trung đông đảo cộng đồng người Mường, ngang ngửa với
Hoà-B́nh cho đến giữa thế kỷ 20 (theo [23]).
b) Sau chừng 3 năm lập nghiệp tổ tiên Lê Thái Tổ gầy nên 'nghiệp lớn', đời đời
làm chức 'Hùng Trưởng' tại địa phương [18]. 'Hùng Trưởng' chính là một lối gọi
theo tiếng Hán, rất có khả năng tương đương với ... 'Hùng Vương', tức 'chef' một
khu vực Mường bản.
c) Mẹ của Lê Lợi có tên húy là Quách. Ta có thể đoán thân mẫu vua Lê, có thể
mang họ Quách hay có bà con rất gần mang họ Quách. Theo [23], cả hai họ Lê và
Quách đều là hai họ thuộc giới vọng tộc trong cộng đồng người Mường ở Hoà B́nh &
Thanh Hoá.
d) Khối người (khoảng 100) đi theo Lê Lợi trong những ngày đầu, xuất thân từ một
mường bản, mang tên Mường Yên, gần núi Chí Linh (Bù Ginh) [25] ở Thanh Hoá.
e) Bộ sử kư của Ngô Sĩ Liên [23] cho biết điạ bàn hoạt động du kích của Lê Lợi
nằm trong các mường bản nằm giữa Thanh Hoá và xứ Ai Lao (cùng chủng Thái-cổ).
Toàn những 'đơn-vị hành-chánh' nầy bắt đầu bằng chữ 'Mường': Mường Yên, Mường
Một, Mường Chánh, Mường Thôi, Mường Xỉa, Mường Lễ, Mường Mộc, v.v.
f) Trong nhiều giai-đoạn của cuộc chiến 10 năm chống giặc Minh, Lê Lợi thường
nhận được giúp đỡ từ phía Ai-Lao (xưa cũng có tên: Mường Qua [25]).
g) Bộ tham mưu gần gũi của Lê Lợi, trừ Nguyễn Trăi và Trần Nguyên Hăn [24], đa
số gồm những người cùng mang họ Lê. Có thể, hoặc thay đổi (hay được ban) họ Lê
cho giống vua, hoặc chính bà con gịng họ người đất Lam Sơn. Kể sơ sơ: Lê Vấn,
Lê Sát, Lê Văn Xảo, Lê Ngân, Lê Lư, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng, Lê Chích, Lê Văn
An, Lê Liệt, Lê Miễn, Lê Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Lê Lỗi, Lê
Nhữ Lâm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Lật, v.v. Theo lư giải kiểu nào, vua ban hay bà con
vua, hằng trăm quần thần cùng mang họ Lê, cho thấy tính cách khá đặc biệt về Họ
ở thời Lê Lợi.
Riêng Lê Lai, trong chức vụ cỡ tham mưu trưởng, trái với hiểu biết thông thường,
và theo [18], bị giết v́ tội ngạo mạn, trước khi quân kháng chiến của Lê Lợi
đánh đuổi được giặc Minh. Sử sách đời sau viết trệch Lê Lai liều ḿnh cứu chúa
(giỗ: 21 Lê Lai 22 Lê Lợi), có lẽ để xoa dịu bất măn quần chúng đối với tính
'vắt chanh bỏ vỏ - được chim bỏ ná - được thỏ bẻ cung' - của các vua đầu nhà Lê.
Chúng ta cũng thấy rơ tầm quan trọng của vấn đề 'cội nguồn quyền lực' qua những
sự kiện lịch sử sau:
(i) Sau khi đánh được giặc Minh (1428), Lê Lợi phải chờ đợi vài năm mới được nhà
Minh chính thức tấn phong ngôi vương xứ An Nam. Vua Lê sai sứ sang Tàu nhiều lần
để thuyết phục với vua Minh con cháu ḍng nhà Trần đă tuyệt tự cả rồi. Lần sau
cùng (1431) mang thêm chứng cớ con cháu cuối cùng nhà Trần là Trần Cảo đă qua
đời, mới xong.
(ii) Có lẽ trong những năm chờ đợi phong vương, các cố vấn chính trị của vua Lê
đă có lăng-xê một số tin đồn trong dân-gian là vua Lê Thái Tổ thuộc ḍng dơi của
vua Lê Đại Hành tức Lê Hoàn. Điểm này không thấy nhắc đến trong bộ Sử của Ngô Sĩ
Liên [18], bởi bộ sử này được viết sau khi nhà Lê đă tạo dựng nền móng chính
quyền vững chắc. Không c̣n cần thiết nữa. Tuy nhiên những thứ tin-đồn đó vẫn
được truyền tụng qua vài quyển sử khác, thí dụ [19], và rất phổ thông trên những
trang mạng lịch-sử internet ngày nay.
(iii) Khi Nguyễn Phúc Ánh nhất thống được nước Nam vào năm 1802, ông sai quyền
bộ-trưởng quốc-pḥng Lê Quang Định sang triều đ́nh nhà Thanh xin thọ phong chức
Vương, với quốc-hiệu Nam-Việt. Chính phủ ở Bắc B́nh từ chối đôi ba lần, và măi
đến năm 1804 mới chính thức chấp-thuận với quốc-hiệu hơi khác là Việt-Nam [26].
Tiện dịp, cũng xin liệt-kê vội một số lư-do cho biết ông Đinh Tiên Hoàng có thể
mang tộc gốc thuộc chủng Thái cổ, thường gọi nôm na là Mường:
a) Vua Đinh Tiên Hoàng là con ông Đinh Công Trứ, thứ sử Hoan Châu. Hoan Châu là
tên xưa của Thanh Hoá, nơi tập trung nhất nh́ của người Mường vào giữa thế-kỷ
20.
b) Chức vụ (quyền) 'thứ sử' Hoan Châu là do tường Dương Đ́nh Nghệ phong cho ông
Đinh Công Trứ. Họ Dương 杨 [Yang] của Dương Đ́nh Nghệ có xuất xứ từ khu vực Vân
Nam [27], xưa gọi Nam Chiếu, địa bàn ban đầu của dân Thái Lan ngày nay.
c) Họ 'Đinh Công' thuộc vào nhóm họ vọng tộc lănh đạo trong cộng đồng người
Mường ở Thanh Hoá (theo [23]).
d) Bộ sử của Ngô Sĩ Liên [18] viết: 'Vua...quét sạch các hùng trưởng, nối lại
đại thống của Triệu Vũ Đế' - đă cho một gạch nối giữa sự nghiệp của Đinh Bộ Lĩnh
với Triệu Quang Phục, đại tướng của vua Lư Nam Đế tức Lư Bôn. Triệu Quang Phục
thu nhận 'cội nguồn quyền lực' từ Lư Bôn (hay Lư Bí). Lư Bôn và anh là Lư Thiên
Bảo, trong suốt sự nghiệp chinh chiến giành độc lập đều có hậu thuẫn là khối
người Lăo (tức Mường gần phía Ai Lao). Cũng như cứ địa ẩn náu của vua là động
Khuất Lăo thuộc khu vực người Mường ở Phú Thọ.
e) Theo [18]: 'Vua c̣n nhỏ bồ côi cha; mẹ là họ Đàm cùng với gia thuộc vào ở
động bên cạnh đều thờ Sơn thần'. Sơn thần, rất có khả năng, chính là Sơn Tinh.
Theo [23] người Mường chỉ thờ có Sơn Tinh, trong khi, chúng ta có thể thấy,
người Kinh thường giữ thế 'trung lập' giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh.
f) Trong suốt thời nhà Đinh, không có cuộc nổi loạn nào do người Man (Mường) gây
ra.
Nguồn gốc tên gọi 'Người Tàu' và 'nước Tàu'
Xin thử chọn một trong nhiều giải-đáp sau cho câu hỏi kiểu:
'Từ ngàn xưa cho đến thế kỷ 19, người Việt thường dùng thứ tên gọi nào để gọi
'người Tàu' hay người Hoa, ở phía Bắc?' - ĐÁP:
A. Người Hán
B. Người Hoa
C. Người Đường
D. Hoa kiều
E. Người Ngô
Có thể nói đa số chúng ta (kể cả người viết) đều chọn sai câu giải đáp. Điều này
cho biết:
(i) Dân Việt rất bận rộn trong ṿng vài trăm năm qua;
(ii) Kiến-thức thông-thường của người Việt về ngôn-ngữ, lịch-sử, và xă-hội, của
chính dân-tộc Việt-Nam từ khoảng đầu thế-kỷ 20 đến nay, có vẻ mất một khoen nối
liên-tục khá quan-trọng [28];
(iii) Biến chuyển xă-hội từ lúc giao-tác với người Tây-phương quá sức to-tát.
To-tát đến nỗi cái mớ kiến-thức hoặc chất xám, cần thiết cho giới sĩ-phu hay
ê-lít để họ có thể ghi lại truyền cho đời sau, luôn đ̣i hỏi những công-tŕnh
liên-tục dài hơn một đời người.
(iv) Vân vân, và vân vân.
Câu giải-đáp đúng nhất cho câu hỏi trên chính là (E): Người Ngô, nước Ngô và
giặc Ngô. Dẫn chứng: (a) Lời kêu gọi toàn dân toàn quân đứng lên đánh đuổi giặc
Minh có tên 'B́nh NGÔ Đại Cáo', do Ức-Trai tiên-sinh Nguyễn Trăi viết. (b) Những
quyển sách như Đại Việt Sử Kư Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên [18], hay Sử Kư Đại Nam
Việt xuất bản vào đầu thế kỷ hai mươi [19] vẫn thường dùng 'nước Ngô', hay 'giặc
Ngô' để chỉ nước Tàu hay Trung Hoa. Bộ 'Sử Trung Quốc' của Nguyễn Hiến Lê [29]
cũng như quyển 'Mă Lai' của B́nh Nguyên Lộc [21], đều có ghi người Việt xưa
thường dùng 'nước Ngô' để chỉ nước Tàu. Và tên gọi 'nước Tàu' chính thức đi vào
sách vở, có lẽ từ dạo 'Việt Nam Sử Lược' của Trần Trọng Kim [30]. Chữ 'Tàu' thật
ra chỉ từ từ thay thế chữ 'Ngô' vào đầu thế kỷ 20. Thay thế bằng cách bỏ bớt đi
'Ô' trong 'Tàu Ô', hay 'giặc Tàu Ô'. Chữ 'Ô' trong 'Tàu Ô' ngày trước thường cho
mang nghĩa 'màu Đen' [34].
Thế nào là 'Tàu Ô'? Theo luận-chứng ngôn-ngữ của chúng tôi dùng để hỗ trợ
lí-thuyết ở đây, [Ô] dùng trong [Tàu Ô] không phải [ô] màu đen, như 'chim quạ ô'
mà lại là một lối phát âm của chữ ... Ngô {吳 }. Tàu Ô => giặc Tàu nước Ngô. Nước
Ngô chính là nước Đông Ngô của Tôn Quyền (孙 权 ) trong thế chân vạc Tam Quốc,
tranh giành Trung nguyên với Tây Thục (Lưu Bị) và Bắc Ngụy (Tào Tháo). Đông Ngô
xưa nằm ở mạn các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, An-Huy, Chiết-Giang, v.v. tức phía
bờ biển Đông, địa bàn của các chủng Lạc-Việt. Ở thời Câu Tiễn (Phạm Lăi - Tây
Thi), vùng Chiết Giang đă mang tên nước Việt (viết như 越 y hệt chữ Việt của
'Việt Nam'). Đất này c̣n gọi 'Ngô Việt' hay 'U Việt' [31] {[U] hay [Ô] là
phát-âm biến đổi của [Ngô]}, để xác nhận sự xáp nhập nước Ngô (Giang Tô) của Phù
Sai vào nước Việt, khi Lạc Câu Tiễn (Câu Tiễn mang họ Lạc viết theo bộ Chuy: Luo
Gou Jian ( 雒 句 踐 ) đánh bại Phù Sai vào năm 478 TCN. Tóm tắt: 'Ngô' là tên nước
rất tốt của một vùng lănh địa ở Trung Hoa, thuộc nhiều đám Việt tộc rất trứ
danh: một (Ngô Việt) vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, và một (Đông Ngô) của Tôn
Quyền vào thời Tam Quốc.
Phát âm của [Ngô] qua các phương ngữ ra sao? Xin xem bảng đối chiếu sau:
Việt-ngữ Hán-tự Hẹ Q. Đ. Quanthoại Ngô-Việt Phúckiến
Ốc (nhà) 屋 vuk uk/ nguk wu o? ok
Ô (quạ) 烏 vu / vua* wu wu u ou
Ngô (U / Ô) 吳 ng / ngu ng wu Hu ngou
Chúng ta có thể để ư:
1. Âm [v] là một âm đặc thù Hẹ, tương đương với [w] của quảng-đông và
quan-thoại.
2. Con quạ, tiếng Hẹ phát âm nhẹ hơn, giống như: [vuạ]. Cả âm [q] và dấu nặng là
phó sản của quốc-ngữ.
3. Lấy âm [wu] quan thoại làm chuẩn, biến âm các phương ngữ khác có thể cho ra:
[U] (Ngô-Việt), hay âm rất gần [Ô] của Mân-Việt (Phúckiến-Triềuchâu)
4. Âm [wu] quanthoại cũng cho ra các âm tương-đương: [Ng] của Hẹ và Quảng Đông,
phát âm rất giống [ưng], như [ửng] tiếng Quảng dùng cho [ngũ] (số 5). Bài thơ 20
chữ của vua Minh Mạng đặt tên lót hoàng tộc nhà Nguyễn có chữ 'Ưng' [33], có khả
năng là một lối phát âm của chữ 'Ngô': Miên Hường ƯNG Bửu Vĩnh / Bảo Quư Định
Long Trường / Hiền Năng Kham Kế Thuật / Thế Thoại Quốc Gia Xương.
5. Một biến thái của [Wu] qua tiếng Hẹ và Phúc-kiến chính là [Ngu] hay [Ngô]
6. Lối lột âm [ng] đằng trước là một thứ biến thái rất thông thường của phương
ngữ Quảng và Hẹ: Ngu Kơ => Âu Cơ; Ngô Việt => U Việt, Ngai => Ai (tôi / tiếng
Hẹ).
Như vậy phát-âm [Ô] chính là phát âm của một số người Việt mang gốc Ngô & Phúc
Kiến cho từ [Ngô] 吳 mang nghĩa 'người Ngô, nước Ngô'.
Theo lối đặt họ-tên của người xưa, họ Ngô rất nhiều khi mang nghĩa người có gốc
gác từ nước Ngô [38] [39]. Và cũng là một trong nhiều lư do chính khiến người
Việt xưa có thói quen gọi người Tàu bằng người Ngô. Bởi người Ngô cũng là một bộ
phận ṇng cốt thuộc Việt tộc đă sát nhập với Hoa chủng tạo nên Hán tộc của Trung
Quốc ngày nay.
Lư do kia là nước Đông Ngô của Tôn Quyền chính là nước đô hộ xứ Giao Châu thay
thế nhà Đông Hán - sau khi nhà Hán tan ră - trong thế chính trị chân vạc Tam
Quốc (189-280). Tên gọi 'Ngô' cùng một lúc gợi nên rất nhiều dấu ấn lịch sử xa
xưa, tổng hợp được một lượt 3 thứ: Họ, Ta, và Lịch sử oai hùng của Việt tộc ở
hai phía, Bắc phương lẫn nước Nam. Tức phản ánh được lư lịch hết sức phức-tạp và
gút mắt của một bộ phận quan-trọng tộc người Việt-Nam.
Như vậy trong hằng ngh́n năm, người Việt đă gọi Bắc phương là người Ngô, nước
Ngô, và giặc Ngô. Rồi tên gọi 'Tàu' bắt đầu thay thế dần 'Ngô' từ nhóm chữ: 'tàu
giặc Ngô', hay 'người Tàu từ nước Ngô', hoặc 'người Tàu Ngô' và 'giặc Tàu Ô',
với 'Ô' thay cho 'Ngô' trong một phát-âm địa-phương.
Nhưng tại sao lại gọi 'Tàu'?
'Tàu' thật ra cũng tiếng 'Tàu' theo phát âm Hoa Nam. Có thể mang những gốc gác
sau:
• Biến thái từ phát âm Hẹ [tsau] và Quảng-Đông [tsou] của 艚 mang nghĩa: tàu bè
• Từ phát âm Quảng-Đông [zau] của 舟 cũng mang nghĩa: Tàu (boat)
• Phát âm Ngô-Việt [zO] của phát âm Quảng-Đông [syun] hay Việt [thuyền]: 船
• Phát âm [to] của Hẹ và Quảng Đông cho 柁 , nghĩa: bánh lái tàu.
• Phát âm [tan] tiếng Hẹ cho 蜑 , nghĩa: 'Thuyền-nhân từ vùng Quảng Đông-Phúc
Kiến'
• Từ tiếng Hẹ [tsau] hay tiếng Quảng [zaau] 櫂 , một từ tổng quát mang nghĩa:
chiếc tàu.
• Phát âm Hẹ y hệt [tau] 盗 tương đương quan-thoại [dao] tức 'đạo' trong 'đạo
tặc'.
• [Tau] trong tiếng Hẹ 盗 đi đôi với [ba] 霸 có thể cho ra [ba tau], rất giống: Ba
Tàu. Thật ra [ba] 霸 đó có phát âm Hải Nam y hệt như tiếng Việt: [Bá Đạo]. 'Ba
Tàu' rất có khả năng một lối phát âm của 'Bá Đạo'. 'Bá' viết y hệt như trong 'Bá
Vương'. Chữ 'Bá' trong 'Bá Vương' hay 'Bá Đạo', thường hàm ư nghĩa xấu (trong
tiếng Tàu nguyên thủy): tay anh chị, nhà lănh đạo độc tài khắc nghiệt.
Chữ 'Tàu' trong 'Tàu Ô' có thể mang gốc từ một hay nhiều ư nghĩa kể trên. Và đến
thế kỷ 20, chữ 'Ô' đọc thay cho 'Ngô', trong 'Tàu Ô', hoàn toàn biến mất khỏi từ
vựng Việt-ngữ.
Chúc Anh Đài - Hoàng Dung, và nguồn gốc tên đệm 'Thị'
Nghiên-cứu lịch-sử của người Tây phương, chúng tôi t́nh cờ phát-hiện, thật ra
hết sức yếu về vấn đề Mẫu-Hệ. Chung qui, cũng ở lư do, lúc các quốc gia ở Âu
Châu ngày nay bắt đầu h́nh thành, xă-hội của họ đă vượt khỏi Mẫu hệ khá lâu.
Khiến ảnh hưởng Mẫu-Hệ trên những biến động lịch-sử không c̣n dấu vết, hoặc là
một chuyện hoàn toàn không có, hay không cần phải quan-tâm trong công cuộc
nghiên-cứu sau này.
Khi nghiên-cứu về cổ sử Á Châu, nhất là với Trung-Hoa, người Tây phương lại
vướng phải hội-chứng (hay mặc cảm) Tần Thủy Hoàng của chính người Hoa. Đó là thứ
hội-chứng luôn luôn chối bỏ, không thèm biết đến thời gian xă-hội đă theo Mẫu
hệ. Hoặc cố-t́nh bóp méo lịch-sử cho rằng xă-hội Trung-Hoa đă chuyển sang Phụ-hệ
rất sớm, cách đây trên 4000 năm. Nhưng nếu đọc kỹ sách vở về văn minh hay
lịch-sử Trung-Hoa, chúng ta sẽ thấy rất dễ dư-âm của thời Mẫu hệ hăy c̣n vọng
măi cho đến ngày nay. Ít ra chuyển hệ từ Phụ sang Mẫu, nhất là trong khối người
đông đảo ở Hoa-Nam, không có sớm sủa như người Hoa thường thích rêu rao. Xin dẫn
chứng sơ sơ:
• Chữ 'tánh' [xing] 姓 dùng chỉ 'Họ' [35], có bộ nữ 女 bên trái, viết chung với
'sinh' (sheng) 生 bên phải;
• Tên vua Nghiêu 姚 (Hẹ đọc rất giống: [ngiau]), cũng dùng bộ nữ bên trái;
• Vua Nghiêu truyền ngôi cho rể là Thuấn tức Đế Thuấn, dấu vết một loại Mẫu hệ?
• Trong vương hiệu Tần Thủy Hoàng Đế 秦 始 王帝, chữ 'Thủy' 始 cũng chứa bộ nữ.
'Thủy' cũng như nhiều tên Họ khác của người Hoa, mang khuynh hướng chứa bộ Nữ;
• Chiến tranh gồm thâu lục quốc của Tần Thủy Hoàng, và tiếp theo bằng việc tiến
chiếm phía Tây Hoa-Nam, theo thiển ư phản ánh một phần lớn xung đột giữa Mẫu Hệ
và Phụ Hệ. Phe thắng cuộc là phe nhà Tần. Và các cộng đồng hoặc thị tộc của xă
hội nước Tần, có lẽ đă theo Phụ Hệ trước nhất;
• Tần Thủy Hoàng chúa ghét Mẫu Hệ (cũng như các thứ đạo giáo, tín ngưỡng không
giống thứ của nước Tần, như Nho giáo chẳng hạn). Ông ra lệnh bắt những anh chàng
đi ở rể (dấu vết Mẫu hệ) đem đi lính đánh giặc Hồ ở phương Bắc;
• Tên họ người Hoa, nhất là ở Hoa Nam, cho đến ngày nay, vẫn thường ít phân biệt
giữa tên người nam và người nữ. Đọc truyện hay xem phim ảnh Tàu, chúng ta vẫn
thấy cảnh gái giả làm trai đi hành hiệp chốn giang hồ mà ít ai hay biết. Thí dụ:
Chúc Anh Đài (sau cặp bồ với Lương Sơn Bá), Hoàng Dung (vợ Quách Tĩnh), trung
tướng Hoa Mộc Lan, v.v. Bởi ngoài việc trai gái Hoa vẫn để tóc dài như nhau, lối
đặt tên của họ ít khi phân biệt nam hay nữ: Hoàng Dung => Chu Dung Cơ. Chúc Anh
Đài => Diệp Kiếm Anh. Trương Mạn Ngọc => Phương Thế Ngọc.
Ở điểm 'giả-vờ không có qua mẫu-hệ', Việt-tộc có vẻ đă từ chối không chịu cóp
người Hoa. Họ thẳng-thắn không chịu mang theo hội-chứng Tần-Thủy-Hoàng, lúc đi
di tản. Bởi chính ước muốn ban đầu, muốn duy tŕ mẫu hệ trong lối sống, đă là
một trong những lư do chính thúc đẩy một số đông các thị tộc Bách Việt (trừ nhóm
Lạc Việt ở khu Hoàng Hà, theo Phụ hệ một lượt với tộc Hoa Hạ), cuốn khăn gói, lũ
lượt di tản ra khỏi Hoa Nam, và chạy về định cư tại xứ Việt cổ. Họ đă truyền
tụng lại cho con cháu một số các chuyện cổ tích xoay quanh vấn-đề tranh chấp
giữa Mẫu hệ và Phụ hệ. Xin phép tóm tắt như sau.
1) Câu chuyện 'cơm không lành canh chẳng ngọt', rồi chia tay giữa bà Âu và ông
Lạc, chính ra biểu tượng đầu tiên của tranh chấp Mẫu hệ và Phụ hệ, trong xă-hội
Việt.
2) Muốn cho chắc ăn, tiền nhân truyền khẩu thêm hai chuyện cổ tích nữa: (i)
Chuyện Trọng Thủy đi ở rể và dụ Mỵ Châu (ái nữ của An Dương Vương Thục Phán) cho
biết bí mật nỏ thần, rồi fax phó bản, hoặc gửi email, về cho Cha là Triệu Đà;
(ii) Chuyện con trai của Lư Phật Tử lấy con gái của Triệu Quang Phục, tức Triệu
Việt Vương. Triệu Việt Vương có vũ khí tối tân là cái móng rồng do (thần) Chử
Đồng Tử trao tặng. Con trai Lư Phật Tử là Nhă Lang, ở rể, cũng dụ vợ theo sách
Trọng Thủy, và lấy được móng rồng, cho cha. Sau đó (năm 571), Lư Phật Tử khởi
binh đánh cho sui gia Triệu Quang Phục phải thua chạy về, rồi tự trầm tại, cửa
biển Đại Nha (sông Đáy). Khác với truyền tích Âu-Lạc, hai huyền thoại Trọng Thủy
và Nhă Lang, có vẻ nhấn mạnh, thứ nhất, trên b́nh diện quân-sự, mẫu hệ có vẻ lép
vế với phụ hệ, và thứ hai, có lẽ xă hội cần phải chuyển sang phụ hệ mới có thể
đối đầu với Bắc phương.
3) Tiếng Việt có nhiều thứ động từ chỉ 'hôn nhân': dựng vợ, gả chồng, cưới vợ,
... Nhưng, xin để ư: 'Lấy'. 'Lấy' có thể dùng cho hai bên: lấy vợ, lấy chồng.
'Lấy' là một tiếng có gốc Thái (Thái Lan và Quảng Đông có những từ phát âm rất
giống), có vẻ phát xuất bằng 'lấy chồng' từ thời mẫu hệ. Về sau, chuyển sang phụ
hệ, biến ngay thành: lấy vợ. Rồi vẫn giữ cách dùng cân đối hai bên: lấy vợ - lấy
chồng.
Nhưng dấu vết sâu đậm nhất của mẫu-hệ tại nước Nam chính là tên đêm 'THỊ' cho
rất nhiều người nữ tại Việt Nam từ xưa đến nay.
'Thị', như trong 'Lâm Thị Chín', nghĩa là ǵ?
THỊ viết theo Hán tự 氏; [shi] là chữ 'thị' dùng cho Thị Tộc (Clan), tức một khối
người có chung một huyết tộc, hay có thể truy về một thứ tổ tiên chung. Dễ hiểu
hơn, Thị Tộc bao gồm một phần nào đó của một bộ lạc lớn, cỡ vài ngh́n người. Thị
Tộc có thể dựa trên Mẫu Hệ hoặc trên Phụ Hệ.
THỊ thông thường mang 3 định nghĩa: (i) một chức tước, do triều đ́nh ban cho
(Thị Lang); (ii) Thị tộc, hay tên Họ; và (iii) tên đệm đặt tiếp sau tên họ cũ
người nữ trước khi lấy chồng.
THỊ 氏; trong nghĩa quan trọng nhất liên-hệ đến Thị-tộc, chính là một thứ Phó-Họ,
tức loại Họ dành cho ... phó thường dân. Tên Họ [35] dành cho ḍng dỏi con vua
cháu chúa chính là Tánh [xing] 姓 trong 'Danh Tánh'. Nhưng ngày nay phân-biệt
giữa Thị và Tánh (Họ) trở nên mù mờ. Tuy vậy, trong ư nghĩa hiện-đại, nhiều
người cùng một Họ, chẳng hạn họ Phan Huy, họ Đặng, họ Thân-Trọng, họ Hồ Đắc,
v.v. có thể cùng chung một Thị tộc, nếu nhận ra một tổ-tiên nguyên-thủy chung.
Từ những nhận xét đó, chúng tôi xin đưa ra lư giải rằng, tên đêm 'Thị' cho người
nữ tại Việt Nam, được đặt ra từ thời mẫu-hệ, tại khu vực Hoa Nam, hay xứ Việt
cổ. Nó mang nghĩa ban đầu tên họ của Mẹ, là tên đặt trước chữ Thị. 'Lâm Thị
Chín' có nghĩa họ của Bà Chín trước khi đi lấy chồng (họ Phạm chẳng hạn) chính
là họ Lâm. Hoặc tên họ người nữ bắt buộc hàm chứa tên Thị Tộc theo tinh thần Mẫu
Hệ [36]. Tức chỉ có con gái mới được mang họ (Thị) của Mẹ hay của ḍng tộc.
Tên đệm Thị đă có tại xứ Việt vào thời xa xưa: Bà Triệu Thị Trinh.
Thế 'Văn' dùng tên đệm cho người nam xuất từ đâu ra? Có lẽ chỉ đơn thuần phản
ánh biến chuyển từ Mẫu hệ sang Phụ hệ của người Hoa Nam và Việt cổ. Nó cho biết
tinh thần yêu chuộng văn chương, chữ nghĩa của dân Việt, xưa và nay [37].
4 tháng 7 năm 2006
NN.
GHI CHÚ
[1] Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Matrilineal. Trong nhiều cộng đồng theo
Mẫu hệ, gia tài người Cậu có khi được để lại cho con trai của người Mẹ.
[2] Xin chú ư nguyên lư trích dẫn chữ Nôm gốc Hoa Nam tŕnh bày ở đây, ít khi
dựa vào âm Hán-Việt, mà bao gồm những âm gần giống trong nguyên bản, trước thời
chưa dùng kư âm kiểu a-b-c. Một số âm Nôm du nhập qua lại trước thời người Bách
Việt biết đến pinyin hay phiên âm theo a-b-c. Thí dụ: âm cho ra chữ [Mợ] có thể
xuất xứ từ [bợ] hay [bei], hoặc [mo] - đôi khi mang nghĩa hơi khác. Để ư âm
[bei] và [mei] rất giống nhau bởi cả hai đều là âm môi-môi. [Mợ] cũng có thể
xuất xứ từ tiếng Chăm [miq] mang nghĩa 'cô'. Chúng tôi cũng để ư: Có vẻ vào thời
cổ đại, không có phân biệt giữa hai từ quan trọng 'vợ' và 'mợ' (hay 'mẹ'). Thí
dụ: gà mái = gà mẹ. Tiếng 'Mợ' (vợ Cậu) nói theo kiểu Hải Nam chính là [jiu ma]
=> 'má cậu' => 'mợ cậu'. Để ư đến âm của 母, tức [mẫu] hay 'mẹ': Hakka (Hẹ): [mu]
hay [me]. Quảng Đông: [mou] hay [mau]. Quan thoại: [mu] hay [wu]. Ngô: [mu]. Mân
(Phúckiến): [bo]. Phát âm quan-thoại có thời là [wu]. [Wu] quanthoại thường có
tương đương Hakka (Hẹ) là [Vu]. [Vu] tiến đến [vợ] rất dễ. Tương tự [Wu] tương
đương với [bo] Mân. [Bo] tiến đến [byợ] kiểu Nam bộ cũng rất dễ. Để ư tiếng gọi
'vợ' hay 'mẹ' phía Bắc thời Ngô-Tất-Tố có thể là [Bu]. [Bu] / [vợ] / [mợ] hoàn
toàn nằm trong ṿng biến âm giữa các phương-ngữ Hoa-Nam. Cũng xin để ư đến một
lối gọi người CHA - bằng 'Bố'. Tiếng Huế xưa là 'Bọ'. Tiếng Thái: [Po] = Bố,
[Me] = Mẹ. Tiếng Chăm gọi người được kính trọng là [Po] (ngài). Một từ Hoa 甫 đọc
[Po] theo kiểu Hàn, [Pu] Hakka, [Bu] quan-thoại và [Fu] Ngô, cũng mang nghĩa
'Bố'. 'Bố' vẫn có thể xuất phát từ phát âm [Bo] 母, dành cho Mẹ của người Mân
(Phúc Kiến). Lúc chuyển từ Mẫu hệ sang Phụ hệ. Từ 嫜 [zhang] đọc theo quan-thoại,
và [zong] kiểu Hẹ (Hakka) mang nghĩa Cha chồng, có chứa bộ 'Nữ' 女 bên phía trái.
[3] GERARD MOUSSAY, Nại Thành Bô, Thiên Sanh Cảnh, Lưu Ngọc Hiến, Đàng Năng
Phương, Lưu Quang Sanh, Lâm Gia Tịnh, Trương Văn Tốn (1971). Tự Điển
Chàm-Việt-Pháp. Trung tâm Văn-hóa Chàm - Phan-Rang.
[4] Một bộ phận chủ lực phía Bắc trong ḷng tộc người Việt Nam, cho thấy có xuất
xứ từ miền cực Bắc nước Tàu, tức người Hẹ (Lạc) cổ, theo phụ hệ trước khối Bách
Việt ở Hoa Nam khá lâu. Tộc người Việt gốc Hẹ (Lạc) cổ này mang khuynh hướng
dùng Chú / Bác/ Cô là chính yếu. Vai tṛ quan-trọng của người 'Cậu' trong Mẫu-hệ
ở phía Nam, hăy c̣n để lại dư-âm trong bản 'tân-nhạc' trong những năm 90 của thế
kỷ qua: 'Rau đắng sau hè'. Có một dạng Phụ-hệ hơi 'lai căng': trong cộng-đồng
người Miêu (Hmông) ở Việt-Nam, vai tṛ người Cô ([phâux], chị hay em của Bố) rất
quan-trọng. Ư kiến của bà Cô rất quan-trọng trong việc cưới-gả cháu trai cháu
gái, và tổ chức ma chay cho Bố Mẹ các cháu [9].
[5] http://www.goddess.ws/kuan_yin.html
[6] Thật ra cộng-đồng các quốc-gia Âu Châu và Anh-quốc ra đời rất muộn so với
Trung-Đông, Hy-Lạp và La-Mă. Benjamin Disraeli, thủ tướng Vương quốc Anh cuối
thế-kỷ 19, mang gốc Do Thái, trong một lúc bực ḿnh đă phát biểu với đồng viện ở
quốc hội, đại khái: 'Ngày xửa ngày xưa, trong khi tổ tiên chúng tôi đang thờ
phượng Đấng Bề Trên, tổ tiên các ngài hăy c̣n... ăn lông ở lỗ, đi săn bắt thú
trong rừng'.
[7] Tiếng Việt: 'vợ-chồng', 'hai vợ chồng', 'cặp vợ chồng', ... có vẻ phảng phất
âm hưởng Mẫu Hệ, đưa 'vợ' đi trước 'chồng'. Trong khi trong Anh ngữ, thường
Husband đi trước Wife: Husband and Wife.
[8] Hai thí dụ cho thấy phát âm 'Giêng' có thể chuyển từ / sang 'Dần' ([iên] <=>
[ần]): Nhà Tần, tiếng Quanthoại là 秦 đọc [Qin]. Họ Trần: 陳 đọc theo Hakka:
[Chin] hay quan-thoại: [Chen]. Ngoài ra trong tiếng người Dao (trong 'cặp bài
trùng' Miêu-Dao, tức Hmong-Mien) tại Việt Nam, năm Mậu Dần họ phát âm như: 'Mù
diền' [15]. 'Diền' phát âm kiểu Hakka hay Bắc chính là 'Dziền' hay 'Giền' =>
'Giêng'. QED
[9] Trần Thị Thu Thủy (Chu Thái Sơn chủ biên) (2003) Người Hmông. Nxb Trẻ.
[10] Rất nhiều dân tộc trên thếgiới dùng chung 1 từ cho 'Trăng' và 'Tháng'. Thí
dụ: tiếng Aborigine (thổ dân) Úc: [gakgalak]. Tiếng Persia (Iran): [măh]. Tiếng
Myanmar (Miến): [là]. Mă-Lay: [bulan]. Việt cổ (bản địa): [bulăng] => [blăng] =>
[trăng] {theo kiểu kí-âm quốc-ngữ}. Nhưng [tháng] lại rút từ cách gọi người
Thái: [deuan], phối hợp với [thang] thuộc tiếng Phúc Kiến (Mân) hàm ư 'trăng
mọc'. Người Việt cổ ngày xưa gọi màu trắng là màu trăng (màu của trăng). Giống y
như người Thái gọi sắc trắng là sắc [găow] tức màu [gaow] (gạo). Tiếng Tàu chỉ
màu trắng là [Bai] (bạch). [Bai] mang cùng âm với một từ cũng đọc [Bai] (tuy có
thể khác thinh) 粺 mang nghĩa 'gạo trắng'. Một từ khác chỉ màu trắng trong tiếng
Hán là 精 [tinh] => trắng tinh. 'Tinh' cũng mang nghĩa gạo trắng, và dùng từ ghép
như: tinh-xảo, tinh-vi, tinh-tế, tinh-trùng, quỷ-tinh (oan hồn => màu trắng).
Trở lại tiếng Việt: màu trắng là màu của trăng. Theo Terry Crowley trong quyển
'An Introduction to Historical Linguistics' (1987) do Nguyễn Cung Thông (2005)
dẫn: Tiếng Kara của New Ireland thuộc Anh-quốc, từ 'mặt trăng' cũng là [bulan]
hay [fulan]. Tức bên trời Âu đă có từ [bulan] dùng để chỉ mặt trăng. Tiếng Tây
dùng chỉ màu trắng là ǵ? Là BLANC, cho thấy mang âm cùng gốc với BULAN, chỉ mặt
trăng. Việt xưa giống Tây xưa ở chỗ đó.
[11] Trần Quang Hải (2005) Dân Ca Việt Nam. Đặc San - Hội Ái Hữu Petrus Kư (Úc
Châu), số 6. Theo Gs Trần Quang Hải, âm giai dùng trong loại hát ru em thay đổi
theo từng vùng. Bắc: thanh âm ngũ cung - do re fa sol la do. Trung: âm giai tứ
cung - do fa sol sib do. Nam: âm giai ngũ cung - do mib fa la do.
[12] Nguyễn Cung Thông (2005) Vài suy nghĩ về nhóm từ 'Bố Cái Đại Vương' và
nguồn gốc chữ Nôm. (Tư liệu chưa xuất bản)
[13] Polynesians: http://www.pbs.org/wayfinders/polynesian.html
http://hpgl.stanford.edu/publications/PNAS_2000_v97_p8225.pdf
http://www.answers.com/topic/tahitian-language (kị húy)
http://www.geocities.com/Tokyo/Bay/7051/blshang.htm
[14] Về sau, [Lợị] thay luôn cho [Lị], và thay luôn tên húy hay tên gọi ban đầu
thật của vua Lê Lị.
[15] Vơ Mai Phương (Chu Thái Sơn chủ biên) (2005) Người Dao. Nxb Trẻ
[16] Charles Hamblin (1984) Languages of Asia & The Pacific. Angus & Robertson.
[17] Cách đây một hai năm, tại thành phố Bankstown (Sydney) có một tiệm uốn tóc
hiệu Vân Ly hay Vân Lee. 'Ly' hay 'Lee' đó viết bằng 黎 , chính là họ Lê của
người Việt.
[18] Ngô Sĩ Liên (1479) Đại Việt Sử Kư Toàn Thư. (Cao Huy Giu & Đào Duy Anh dịch
và hiệu đính). Nxb Văn Hoá - Thông Tin. (2004).
[19] Annales Annamites & Quốc Triều (1909) Sử Kư Đại Nam-Việt. Nhóm Nghiên Cứu
Sử Địa (1974 Saigon / 1986 Montreal).
[20] Nếu dựa vào triết lư, không ai có thể xác định đời sống ở hải đảo và cuộc
sống tại các đô-thị văn-minh của các quốc-gia tiên tiến, thứ nào hơn thứ nào.
Bằng chứng đơn giản là rất nhiều hải-đảo ngày nay vẫn thường được gọi 'nơi chốn
thiên đường paradise', dành riêng cho các tài tử xi-nê có nhiều tiền.
[21] B́nh Nguyên Lộc (1971) Nguồn gốc Mă Lai của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu
(tái bản tại Hoa Kỳ)
[22] Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh sớ, Đoàn Hy Trọng điểm
hiệu, Trần Kiều Dịch phúc hiệu (1999) Nguyễn Bá Măo dịch (2005). Thủy Kinh Chú
Sớ. Nxb Thuận Hoá. Bộ 'THỦY KINH CHÚ' do các học giả người Hoa soạn từ thời Tam
Quốc (220-265), cho biết nhiều vị làm nên chức Thứ Sử tại Giang Nam hay Giao Chỉ
có gốc 'Man'.
[23] Jeanne Cuisinier (1946) Les Mường, Géographie et Sociologie humaine.
Institut d'Ethnologie - Paris, France
[24] Nguyễn Trăi bên ngoại thuộc ḍng tôn thất nhà Trần (Trần Nguyên Đán). Ức
Trai tiên sinh có bà con với tướng Trần Nguyên Hăn (có thời được Lê Lợi đổi sang
họ Lê => Lê Hăn). Cả hai Nguyễn Trăi và Trần Nguyên Hăn, mặc dù đă xin về hưu,
nhưng vẫn không yên. Đều bị các vua Lê sát hại.
[25] Bù Ginh => núi Chí-Linh. [Bù] => [Pu] là tiếng Thái mang nghĩa 'núi'.
'Ging' có thể phát âm giống như [Jing] hay [Ring]. [Ring] trong tiếng Thái
(giống âm 'r' Quảng Đông) dễ biến sang [Ling] mang nghĩa con khỉ => phát âm
[Linh] => Chí Linh. Tiếng Tàu có vài phương ngữ cho ra âm [li] hay [zi] hoặc
[gi] chỉ con khỉ. Núi Chí Linh thời xa xưa có thể là núi có nhiều khỉ? Cũng có
thể lư giải [Ginh] có cùng xuất xứ với tiếng Thái [Jit] mang nghĩa 'linh
thiêng', 'linh hồn'. [Jit] => [Ginh] => [Linh]. 'Mường Qua' = nước Lăo Qua, tức
Ai-Lao => chủng Thái. Mường => chủng Thái-cổ.
[26] Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (chủ biên: Cao Xuân Dục) (1998) Quốc-Triều
Chính-Biên Toát-Yếu. Biên soạn: Trần Đ́nh Phong. Hiệu đính: Đặng Văn Thụy & Lê
Hoàn. Nxb Thuận-Hoá.
[27] http://en.wikipedia.org/wiki/Chinese_surname
http://www.tocatch.info/en/Chinese_surnames.htm
http://www.geocities.com/tokyo/3919/
http://en.wikipedia.org/wiki/Song_Dynasty_(960-1279)
http://www.geocities.com/tokyo/3919/
http://www.geocities.com/james_lee.geo/Chinesewords.htm
http://www.yutopian.com/names/06/6Ruan179.html
http://www.mayrand.org/meaning-e.htm
[28] Điển h́nh qua một vài từ cơ bản: 'Trăng' ngày trước phát âm như [Bờ-lăng].
'Tôn giáo' cho đến những năm 1950's hăy c̣n phát âm như 'Tông giáo'. 'Trời' như
'Blời'. 'Trẻ con' như 'tlẻ kon', và hằng ngàn từ khác. Đặc-biệt giới ê-lít Việt
theo Tây-học từ giữa thế kỷ 20 đến nay, có vẻ lúc nào cũng cho rằng tiếng Việt
ngày xưa mang phát âm y hệt như chữ quốc-ngữ dùng để kư-âm truyện Kiều in ấn
trong các sách giáo-khoa bậc trung-học.
[29] Nguyễn Hiến Lê (1997) Sử Trung Quốc. Nxb Văn Hoá
[30] Trần Trọng Kim (1971) Việt Nam Sử Lược. Nxb Trung-Tâm Học Liệu (Bộ Giáo
Dục). Nxb Đại Nam tái xuất bản tại Hoa Kỳ.
[31] Một học giả Hán-Nôm tại Việt Nam, với sự kính trọng và ngưỡng mộ hăy c̣n
đó, có viết trong một quyển sách, ông không hiểu tại sao người Nam bộ lại phát
âm sai 'tôi' thành ra 'tui'. Thật ra, như chúng tôi đă tŕnh bày nhiều lần, biến
chuyển phát âm trong tiếng Việt phản ánh 100% biến chuyển âm-vận giữa các phương
ngữ Hoa Nam. Thí dụ: [V] => [W] => [Y] => [B] => [M], v.v. Âm [U] đặc biệt ưa
qua lại với [Ô]. Thí dụ: nước U Việt, bây giờ ưa viết thành NgÔ Việt. [Vui]
{Byui} => [Bôi] => ông Hồ Văn Bôi cũng gọi Hồ Văn Vui, nhạc phụ vua Minh Mạng.
[Wung] hay [Ung] trong vài phương-ngữ tiếng Hoa, biến thành [Ông] trong tiếng
Việt và Chiêm Thành. Họ Hoàng tại Việtnam được kí âm như Huang ('u' thay 'o')
trong phiên-âm pinyin tiếng Quanthoại. Trong thí dụ ‘Ba Tàu’ <=> ‘Bá Đạo’ ở trên
chúng ta lại thấy lí do tại sao phát âm Nam bộ không phân biệt âm cuối [u] và
[o], theo kiểu [Tàu] và [Tào]. Bởi phương ngữ gốc của họ, rất có khả năng đă
biến đổi qua lại giữa âm [au] (tau) của Hẹ với âm [ao] (dao) quan-thoại hay Mân.
[32] http://www.yutopian.com/names/
[33] 'Ưng' chính là tên đầu của vua Hàm Nghi: Ưng Lịch. 'Ngô' (tức Ô hay Ưng)
trong nghĩa nguyên thủy (tiếng Ngô Việt) là to lớn, vĩ đại. Trong âm tiếng Hoa
Nam có thể biến chuyển với 'Hưng' trong 'hưng thịnh'. Theo vài trang mạng, ‘Ưng’
[Ng] tức họ Ngô, cũng mang nghĩa ‘người trọng t́nh huynh-đệ’. Tự vị của Paulus
Húnh Tịnh Của, có ghi thêm nghĩa của chữ ‘Ưng’: tiếng chúc, tiếng trù. ‘Ưng’
tiếng Nôm c̣n mang nghĩa thông thường: ‘ưng chịu’, ‘đáng lư’, ‘chim ưng’.
[34] Lư giải ngày trước liên kết chữ 'Tàu Ô' với giặc 'cờ đen' của Lưu Vĩnh
Phúc, gốc người Quảng Tây. Thật ra đám cờ đen chỉ là một trong 3 đám tàn quân
của giặc Thái B́nh Thiên Quốc ở miền Quảng Tây - Quảng Đông. Hai đám kia là cờ
vàng và cờ trắng. Giặc cờ đen chỉ 'quậy' trong ṿng vài năm (khoảng 1869) cho
đến khi Lưu Vĩnh Phúc trở về Phúc Kiến làm quan tướng. Trong khi, cách dùng chữ
'Ngô' (tức 'Ô' hay 'U' hoặc 'Ưng') cho Trung quốc đă có tự ngàn đời. Thật ra, có
khá nhiều tranh căi về vai tṛ của tướng Liu Vĩnh Phúc trong cuôc chiến chống
Pháp tại Việt Nam và Trung Hoa. Giới mộ điệu xi-nê cũng cần nhớ nhân vật có thật
Hoàng Phi Hồng (Huang Fei Hung), do Lư Liên Kiệt (Jet Li) thủ vai, từng là cánh
tay mặt của Lưu Vĩnh Phúc khi ông này trở lại Phúc Kiến.
[35] Theo hiểu biết thông thường, Họ xuất xứ từ Hộ, mang nghĩa: nhà, gia đ́nh.
Nhưng chúng tôi cho rằng 'Họ', thật ra xuất phát từ một phát âm Hẹ hay Quảng
Đông [Hon] cho chữ 傼 mang nghĩa: Họ.
[36] Chúng ta có thể đặc biệt chú ư, tiếp theo tŕnh bày mẫu hệ của xă hội phía
nam (Chăm-pa và Chân-Lạp) ở bài trước, cách dùng tên đệm THỊ có vẻ hăy phổ biến
ở phía Nam nhiều hơn ở phía Bắc.
[37] Tài tử Trung-Quốc/Hongkong chuyên phim kung-fu mang tên lót VĂN: Triệu Văn
Trác (Vincent Zhao). Vincent Zhao là tài tử mới nhất thủ vai: Hoàng Phi Hồng.
[38] - Họ TRẦN 陈: xuất phát từ tên một nước nhỏ tên Trần ở miền cực Bắc nước
Tàu, vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, khi Trung Hoa có gần 2000 'nước' lớn nhỏ khác
nhau. Gần nước Thái, nơi Khổng Tử có đi qua. Sau khi nước Trần phiá Bắc bị giải
thể đến cả ngh́n năm, trung tướng Trần Bá Tiên (Chen Ba Xian) của nhà Lương, sau
khi từ chiến trường Giao Châu (đánh với Triệu Quang Phục) trở về, kéo quân lật
đổ Lương triều và dựng nên nhà Trần ở miền Phúc Kiến (557-589). Từ đó nhiều
người Phúc Kiến (Mân) thường mang họ Trần. Triều đại nhà Trần tại Việt Nam, cũng
có gốc gác từ xứ Mân. 'Trần' theo chiết tự có thể mang nghĩa 'xứ thần phục nhà
Tần, ở hướng Đông'. Họ Trần là một trong 4 họ phổ thông nhất tại Trung Hoa.
- Họ NGUYỄN 阮: mang nghĩa nguyên-thủy 'một loại nhạc cụ'. Họ 'Nguyễn' xuất xứ
lâu đời từ nước Nguyễn ở phía Đông Nam tỉnh Cam Túc, gần tỉnh Tứ Xuyên, địa bàn
của Khương tộc, Thái tộc và Việt tộc. Lúc đó Trung Hoa có chừng 2000 nước lớn
nhỏ khác nhau. Nước Nguyễn bị Châu Văn Vương sát nhập rất sớm và con cháu tản
mác về hường Hoa Nam hoặc phía Đông, vẫn giữ họ Nguyễn. Thứ sử tại Giao Châu (xứ
Việt cổ) thời nhà Trần của Trần Bá Tiên, là một người mang họ Nguyễn: Nguyễn Tá.
Trong thời Lục triều (thế-kỷ 3-6) ở phía nam nước Tàu, có anh em nhà thơ Nguyễn
Tịch và Nguyễn Hàm, thuộc Trúc Lâm thất hiền. Nhà Minh cũng có vị đại tướng mang
họ Nguyễn (Ruan Dacheng), và nhà Thanh, thầy giáo của nhà vua cũng một người
mang họ Nguyễn (Ruan Yuan).
[39] Những người phải di tản rời quê hương ưa dùng tên quê-hương để đặt tên hay
họ cho con cháu. Bộ phim video Vân Sơn in Bangkok cho biết khá nhiều Việt kiều
sinh sống ở Thái Lan, qua đó hồi thế kỷ 19, chạy giặc Tây, mang họ là An-Nam.
Thí dụ: An-Nam văn Dũng, An-Nam thị Mỹ.