Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương
(18):
Phần 3: Người Việt thuở ban đầu
Nguyên Nguyên
Cách đây vài năm, chúng tôi đọc được đâu đó, bài viết của một vị thuộc nhóm
chuyên gia phụ trách về vụ khai quật thành Đại La. Đại khái, tác giả đă thành thật
và thận trọng, cho biết kiến thức hiện thời của giới hữu trách về sử, khảo cổ,
cũng như dân tộc học, áp dụng vào 'di chỉ' Đại La, thật ra chưa được đầy đủ để
có thể lư giải toàn bộ vấn đề với mức chính xác cao. Nên đành phải tạm gác lại một
thời gian. Trước đó ít lâu chúng tôi được một người bạn Tân Tây Lan, bà Allison
Vũ, một chuyên gia về đồ sứ xứ An-Nam, cho biết một trong những điểm khá li ḱ của
kiến trúc Đại La, chính là sắc thái mang nhiều ảnh hưởng Chiêm Thành (Chăm),
thay v́ Trung Hoa hay 'Việt tộc', như thường nghĩ.
Gần đây, đúng vào lúc chuẩn bị viết bài này, chúng tôi được đọc một quyển sách
cũ của Lê Văn Siêu [1], trong đó học giả họ Lê có ghi, trang 97:
'Tuy nhiên, sự thờ thần tượng thể cách hoá thành linga của Brahman, Visnu, Siva
th́ người Việt không thờ theo, mà trong các đền đài vua quan hay các anh hùng
dân tộc, như ở đền Lư Bát Đế - Bắc Ninh, ở lăng quận công Nguyễn Diễn cạnh chùa
Lim, ở chùa Thầy - Sơn Tây, đều có hai phỗng đá chầu hầu tạc theo h́nh người
Chàm, quỳ chân chắp tay phía trước, bụng phệ và mắt lơm. Nói không thờ theo là
nói chung tất cả, chớ cũng có làng thờ ông Đùng bà Đàng (phiên âm tiếng Chàm Yan
nghĩa là linh ứng) hàng năm c̣n rước thần tượng Linga và Yoni [9] bằng gỗ sơn
son thiếp vàng. Có lẽ đó là phong tục cũ của một làng xưa có những tù binh Chàm
bị nhà vua bắt an trí và bắt khai khẩn ruộng đất.'
Xin để ư hai thứ lí giải khá phổ biến trong giới nghiên cứu Việt Nam, thường dựa
vào mớ lư thuyết của các học giả Âu Tây, dựa rất nhiều vào nguyên lư Nhị Nguyên,
tiêu biểu qua phân biệt 'Họ và Ta': (i) Ảnh hưởng văn hoá Chiêm [12] trên xứ Việt
cổ toàn là do ở dấu vết các tù binh Chiêm. (ii) 'Nước' Chiêm Thành tan ră bởi họ
lo chinh chiến nhiều quá, không để ư đến việc kiến thiết an dân.
Chúng tôi, qua bài này, sẽ xin phép tŕnh bày một khía cạnh khác của lư thuyết ở
đây đặt 'tập trung' về phía Nam - và một phần của kết quả sẽ đưa đến hai thứ lư
giải hoàn toàn khác biệt với các thứ đă có sẵn từ trước.
Nhưng trước hết xin ghi thêm về lối làm việc của những học giả Tây phương trong
vấn đề cổ sử Á Đông. Có thể tóm tắt một vài điểm đặc trưng như sau.
• Theo phương pháp khoa học, việc đầu tiên của họ là phân loại, xếp nhóm với
nhau. Nhất là về ngôn ngữ. Đáng kể ở Đông Nam Á, họ chia thành hai loại chính:
Nam Á (Austroasiatic) và Nam đảo (Austronesian). Nam-Á có 2 nhánh: Môn Khmer và
Munda, hiện diện ở Đông Bắc Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam, một hai tỉnh
miền Nam Trung Hoa, Mă-Lay-Á, và rất nhiều đảo chạy dọc theo Ấn Độ Dương. Nhóm
tiếng Nam-Đảo trong khi đó có mặt từ đảo Madagascar ở Phi Châu đến đảo Easter ở
Thái b́nh Dương, thọc lên tận Formosa (Đài Loan), và bao gồm quần đảo Inđô-nêxia,
xuống tận Tân Tây Lan.
• Ở thời buổi ban đầu trong việc nghiên cứu về cổ sử và ngôn ngữ các nước Đông
Nam Á, các học giả phương Tây có lẽ chưa đạt được hiểu biết đầy đủ về những chuyện
hết sức gút mắt của văn hoá từng tộc người ở vùng này, và có thể cũng mang chút
ít thành kiến: Họ đặt tên các nhóm ngôn ngữ rồi dẫn đến chủng tộc, dựa vào quan
sát việc tộc người nào có đền đài và kiến trúc cổ, to và đẹp nhất. Hay dân chỗ
nào đông và có nền văn hoá lẫy lừng nhất. Từ đó ta thấy Hán-Tạng, Tạng-Miến,
Mă-Lay, Môn-Khmer, Indonesia, rồi Thai-Kadai trở thành những ứng viên sáng giá
nhất. Bởi chủng Việt, một phần lớn đă sát nhập chung với tộc Hoa Hạ tạo nên người
Hán [4], phần kia nằm dưới ách đô hộ của người Pháp, nên tiếng Việt nằm ngoài
ṿng sắp xếp của các học giả Tây phương. Dù vậy họ đoan chắc tiếng Việt, ít ra một
phần lớn tiếng Nôm xưa, nằm trong nhóm Môn-Khmer, thuộc khối Nam-Á.
• Phối hợp vào đó với thứ tiền đề đă có sẵn, dựa trên sự kiện người vượn đảo
Java có trước người vượn Bắc Kinh, họ tạo dựng nên một số các tiền đề phụ, mà kết
quả là luôn luôn đánh lạc hướng mọi công tŕnh t́m về cội nguồn dân tộc, nghiên
cứu về cổ sử, ngôn ngữ, và luôn cả khảo cổ. Tóm tắt có chừng 4 hướng di-chuyển của
người tiền sử: Bắc xuống Nam, Nam lên Bắc, Đông sang Tây, Tây qua Đông. (Thuyết
Địa Đàng Phương Đông của Oppenheimer là một thứ thuyết với hàm ư: từ Nam lên Bắc
và từ Đông sang Tây). Thí dụ nôm na hơn: Họ thường cho người Chàm (Chăm) là thuộc
gốc Malayo-Polynesian, tức Mă-Lay+Đa-đảo. Tức nhóm người Chàm đầu tiên phải là
nhóm người dùng thuyền bè từ các hải đảo phía Nam, ghé vào bán đảo Mă Lay, rủ rê
một số đồng bào thích phiêu lưu mạo hiểm, cùng nhau chèo thuyền về phía Bắc rồi
sau cùng đổ bộ lên khu vực Hội An sau này. Kiến tạo nên nền văn hoá Sa Huỳnh nổi
tiếng. Ngược lại, họ cho dân đa-đảo xuất phát từ đảo Formosa, tức Đài Loan ngày
nay. Tiếp tục suy luận: Dân Formosa xưa có tiếng nói hơi giống dân Hoa Nam. Do
đó, khối Đa đảo được xếp chung với thổ dân Formosa vào nhóm Nam-Đảo, tức
Austronesian. Giả thuyết người Java có trước người Bắc Kinh thông thường đưa đến
việc cho vùng đất Mă-Lai-Á chính là thủy tổ dân Á Châu. Tức dân Java ṃ lên tận
Trung Hoa trước. Vài ngh́n năm sau, vào lúc cực điểm của chiến tranh Đông Chu liệt
quốc, họ lại chạy ngược trở xuống, trở về Nam.
Toàn bộ các thứ tiền đề liên hệ đến 3 điểm chính yếu kể trên đă đưa đến vô số những
lư thuyết về ngôn ngữ, chủng tộc, và lịch sử của các thứ dân miền Đông Nam Á kéo
dài suốt thế kỷ 20. Đa số các học giả, nhất là người gốc Á Đông, đều không ngờ rằng,
tất cả những tiền đề đó đă được dàn dựng từ thời xa xưa. Khi học giả Tây phương
hăy chưa am tường, nắm vững hay phối hợp được các chi tiết hết sức gay cấn và
đôi khi mâu thuẫn với nhau. Trên cơ bản, theo thiển ư, những lư thuyết có vẻ rất
khoa học và đầy ấn tượng đó có thể chưá khá nhiều lổng chổng lấn cấn.
Xin thử đưa ra vài thí dụ, như sau.
Điển h́nh nhất trong lối sắp xếp phân biệt Nam Á với Nam Đảo chính là vấn đề xứ
Chăm-pa. Quyển 'Luật tục Chăm & Luật tục Raglai' [5], dựa vào lối phân biệt
Nam-Á và Nam-đảo của các tác giả Tây phương, cho rằng: 'Người Chăm thuộc chủng tộc
Nam Á, tiếng nói của họ rất gần gũi với các dân tộc Raglai, Churu, Jarai, Êđê,
thuộc ngôn ngữ Austronesian (nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynesian).' Chủng tộc thuộc
khối Nam-Á, nhưng ngôn ngữ lại theo phe Nam Đảo. Rơ ràng có chuyện lấn cấn đâu
đó. Hay nôm na hơn, lấy râu ông nọ cắm vào cằm bà kia. Thêm một thí dụ khác:
Theo Nguyễn Đức Hiệp [13] một số sắc người dân tộc ở phía Nam, như: Mạ, Stiêng,
Churu, v.v. thường có tiếng nói được xếp vào nhóm Môn-Khmer, nhưng nhiều học giả
Tây phương lại xếp tộc chủng (hoặc đôi khi cả ngôn ngữ), của họ vào nhóm Nam-Đảo.
Nh́n lại lối sắp xếp Nam Đảo với Nam Á, ta thấy họ sắp tiếng Mă-Lay vào nhóm
Nam Á, nhưng In-đô-nê-xia lại chạy vào nhóm Nam Đảo. Thế, chúng ta được biết tiếng
Mă Lay rất giống tiếng In-đô (như tiếng Lào giống tiếng Thái Lan). Như vậy toàn
bộ việc phân biệt Nam Á và Nam Đảo chắc chắn đă tổng quát hoá vấn đề bằng một đường
lối nào đó khá li ḱ.
Lối phân chia Nam Đảo / Nam Á, đem vào áp dụng cho người Chăm rất dễ bị gảy đổ.
Bởi một mặt, người Tây phương thấy người Chăm giống người Việt và Khmer, như Mường
ở giữa Thái và Việt. Tam đoạn luận tiếp theo (mà người Việt thuộc khối Nam Á), sẽ
bắt buộc sắp người Chăm vào nhóm Nam Á. Mặt khác, họ lại thấy tiếng Chăm giống
tiếng Mă Lai - phối hợp với tiếng Đa đảo, nên họ cho tiếng Chăm thuộc khối Nam Đảo.
Nhưng họ vẫn chưa 'shuua', và để cho chắc ăn, họ đặt ra một phân loại ngôn ngữ
khác dành cho Chàm và Mă Lai: Malayo-Polynesian (Mă Lay - Đa đảo).
Phân biệt Nam đảo / Nam Á của mấy bậc tiền bối Tây phương đă vô t́nh tảng lờ
đi khối ngôn ngữ của dân Bách Việt ở Hoa Nam. Qua những bài trước chúng ta đă thấy
rất nhiều dấu vết của những phương ngữ Hoa Nam trên tiếng Việt. Thế nhưng, các
phương ngữ Hoa Nam lại cho vào nhóm Hán-Tạng, trong khi Việt lại thuộc hệ Nam Á.
Ảnh hưởng biến chuyển giữa các phương ngữ Bách Việt cũng phản ánh đầy đủ trong
các thứ tiếng Nam đảo (Đa đảo). Thí dụ: 'Cẩu' hay 'Kiủ' mang nghĩa con Chó. Sang
đến nhiều đảo Thái B́nh Dương, 'Chó' ở tiếng Bách Việt [Kiủ => Kủ] trở thành [kuli].
Nhưng tại Tân Tây Lan, dân Maori gọi đó [kuri]. Thấy rơ âm [l] ([kuli]) ở các khối
dân Nam đảo trở thành [r]: [kuri], trong tiếng Maori. [L] => [R] y hệt như 'Fried
Rice' (cơm chiên) phát âm như '"Flied" Lice' (Lice= rận) kiểu người Quảng Đông,
bởi tiếng họ không có âm [R] như Mon-Khmer.
Lộn xộn trong câu chuyện khoa học về Đông Nam Á của mấy ông Tây phải kể đến xứ
Hải Nam. Từ xưa đến nay, có lẽ người Hải Nam nào cũng biết, ngoài những món độc
chiêu: cơm gà Hải-Nam, trồng nhiều cây dừa (tiếng HN: [ya zhi]), nhảy múa theo
nhịp đập hai thanh tre - tộc người nguyên thủy bản địa của xứ Hải-Nam chính là
Miêu tộc và Lê tộc (Miao & Li). Và tiếng Hải Nam là một thứ tiếng 'thuộc nhóm
Hán-Tạng' (do mấy học giả Tây phương phân loại), nhưng chỉ có 1 thinh, y hệt như
các thứ tiếng Inđô-nêxia, Mă-Lay, và nhất là tiếng Khmer. Gần đây họ lại đổi ư
và cho tiếng Hải Nam giống Mă-Lay nhất. Xin để ư hiện tượng các 'cặp bài trùng'
ưa nương tựa nhau: Âu (Việt)+Lạc (Việt) {tức Thái-Việt}, Hẹ-Miêu, Miêu-Dao (Hmong-Mien),
Môn-Khmer, Thái-Hẹ, Thái-Mân, Miêu-Lê, v.v. Xin tập trung và dừng lại ở Lê tộc
(Li zu 黎族 ), một trong 2 tộc người bản địa Hải Nam. Sách vở các học giả Âu Mỹ
không hề liên kết tộc người cốt lơi của người Chăm với người Hải Nam, và khá mơ
hồ bất nhất với tộc Lê ở Hải Nam. Từ xưa đến giờ có lẽ chưa một sử gia nào, đặc
biệt Hoa hay Việt, đưa ra lí giải hiện tượng ghi lại ở một vài tài liệu rải rác
đó đây [6][7]: 'Sau khi lính Chiêm bị bắt làm tù binh hay nô lệ ở nước An-Nam
hay Đại Việt, lúc trốn thoát được, họ có khuynh hướng trốn về ... Hải Nam'. Theo
thiển ư, nguyên do chính của thế bí Nam-đảo / Nam-Á / Malayo-Polynesian /
Mon-Khmer / Li, trong vấn đề Chăm-pa & Hải-Nam chính là lối phân biệt hết sức bất
chợt, thiếu thốn hiểu biết rành rọt các chi tiết gút mắt của ngôn ngữ và chủng tộc,
ở Đông Nam Á.
Lư thuyết chúng tôi ở đây đặc biệt không dựa trên các tiền đề quen thuộc Tây
phương:
(i) Xuất xứ: Java hay Peking. (ii) Nếu ngôn ngữ mang dấu Malayo-Polynesian, th́
tộc người đó có xuất xứ từ phía Mă Lai - Đa đảo. (iii) Tộc người thuần chủng và
ngôn ngữ ở thời cổ đại vay mượn lẫn nhau [22]. Và cũng không dựa vào thứ tiền đề
nhiều nhà nghiên cứu Việt rất thích: văn hoá Hoà B́nh hay Đông Sơn là thứ văn
hoá thủy tổ trong vùng. Sự thật nhà nghiên cứu Tây phương có khuynh hướng dùng
tên di chỉ họ khai quật được (đầu tiên) để làm tên chung cho thứ văn hoá cùng thể
loại. Nó hoàn toàn không có nghĩa đó là địa điểm trước tiên của thứ văn hoá đó.
Đặc biệt không thể gọi ngay là 'văn minh'. Điểm này đă được Wilhelm G. Solheim
II [24] xác nhận, khi ông cho biết người ta đă t́m thấy tại phía Bắc Thái Lan
khuôn đúc đồng hai lớp có tuổi đời trên 3000 năm trước C.N..
Ngược lại chúng tôi cố gắng thiết lập một số quan điểm nền tảng:
1) Không tập trung ở, hoặc xin tạm gác, nguồn gốc nguyên thủy - ở thời xa xưa,
cách đây trên 4000 năm: Chúng tôi đă dựa vào các nhận xét sau. Thứ nhất, không
nhất thiết lập quốc càng lâu chừng nào, dân tộc càng hưởng được nhiều hạnh phúc
thái b́nh, hay càng giàu mạnh chừng nấy. Thái-Lan lập quốc rất muộn, sau thế kỷ
thứ 10, nhưng Thái-Lan luôn giữ vững nền độc lập trước sức tiến của Tây phương,
và ngày nay giữ ngôi vị xuất khẩu gạo hạng 1 đúng như truyền thống tổ tiên họ là
Yue tộc viết với bộ Mễ (gạo): 粤. Xin-ga-po (Singapore) 'lập quốc' không đầy một
thế kỷ nhưng mức lương b́nh quân đă bắt đầu qua mặt lợi tức người Úc. Nước Hoa Kỳ
được khám phá vào khoảng thời gian các nước Âu Châu c̣n tranh hùng xưng bá với
nhau, nhưng chỉ trong ṿng hai trăm năm trở thành minh chủ các quốc gia Tây
phương. Úc, Tân Tây Lan, Gia nă Đại, có tuổi đời non trẻ hơn rất nhiều nước ở Á
Châu, nhưng mức sống th́ đi trước cả trăm năm. Thứ hai, lịch sử, văn hoá, văn
minh, cũng như cá tính dân tộc ngày nay được hun đúc cao lắm là 2500 năm. Thường
chỉ khoảng 500-1000 năm mà thôi. Trong khoảng thời gian dài đó có bao nhiêu chuyện
vật đổi sao dời, di dân hợp chủng đủ thứ. Nếu muốn hiểu rơ lịch sử, ưu tiên số một
cần dành cho khoảng thời gian 2500 trở lại đây thôi. Thêm vào đó, có lẽ rất ít
quốc gia trên thế giới, kể cả người Ư và người Hoa, có thể tự hào rằng họ hiểu
biết rơ về cổ sử trước đây trên 2500 năm.
2) Không dựa vào lối phân loại thông thường của Âu Mỹ để từ đó cho rằng tộc này
là hậu duệ tộc kia. Thí dụ: Chăm là Malayo-Polynesian, như vậy người Chăm là hậu
duệ của hai chủng Mă Lai và Đa đảo. Hay tiếng Việt có nhiều từ giống tiếng Mă
Lai, nên người Việt thuộc Mă Lai đợt I theo kiểu thuyết Mă Lai [7]. Ngược lại,
chúng tôi đặt tập trung ở các chi chủng: Môn-Khmer, Lê tộc, Thái-cổ, Hakka, Mân,
Ngô, Hmong-Mien, Đa-đảo, v.v. Sau đó, t́m những đặc tính riêng của từng tộc người.
Đặc biệt nhất, các tính chất ngôn ngữ và văn hoá. Sau đó, nếu thấy dân một nước
nào có những tính đặc trưng dân tộc nào đó, chúng tôi sẽ đi đến kết luận tạm: có
sự hiện diện của tộc đó trong ḷng dân nước kia. Thí dụ: dân bản địa ở Hải Nam
có món vũ ống tre. Dân Phi-líp-Pin cũng có vũ múa ống tre. Do đó một thứ tộc bản
địa Hải Nam (người Lê) đă có mặt ở Phi-líp-Pin. Inđônêxia có trống đồng, Thái
Lan có trống đồng, Việt Nam (phía Bắc), và khu Vân Nam cũng có trống đồng. Như vậy
có một thứ tộc nào đó ngày trước, chuyên đúc chế trống đồng đă có mặt tại những
nơi có trống đồng. Chúng tôi sẽ tạm gác lại tính tự hào dân tộc thường đổ dồn nổ
lực nghiên cứu xem xuất xứ nó ở đâu. Và tiền đề quan trọng chúng tôi đề ra: Gần
như tất cả dân tộc miền Đông Nam Á đều là hợp chủng. Có thể một vài quốc gia có
một tộc chủ lực chiếm đa số, nhưng thường thường nằm ở t́nh trạng một chín một
mười.
3) Không dựa vào chuyện vay mượn 'ngôn ngữ' ở thời cổ đại [22]. Chúng tôi cho đó
chuyện bất khả thi, ít nhất trên b́nh diện tổng quát, bởi thời đó không có báo
chí, radio, Tivi, internet, điện thoại cầm tay, v.v. Không lẽ khi bí về sự vật
hay động tác nào đó, người bộ lạc này phải cỡi trâu hay voi, hoặc chạy bộ để cho
khoẻ và tiêu mỡ cholesterol, sang bộ lạc hàng xóm để hỏi họ dùng tiếng ǵ để chỉ
việc đó. Chỉ có chuyện hỗn hợp các thứ tiếng của các bộ lạc khác nhau. Như đă đề
cập trong một bài trước, chuyện 'hợp-chữ' có thể đưa đến 3 kết quả chính: (a)
hai từ chỉ chung một sự vật sẽ cạnh tranh mănh liệt với nhau, cuối cùng tiếng của
tộc người nào cư ngụ đông đúc tại khu kinh đô sẽ đạt được thế phổ biến nhất. Thí
dụ: chân > cẳng > gị. (b) các từ tương đương chỉ cùng một động tác hay sự vật sẽ
dần dà thay đổi ư nghĩa để kho tàng từ vựng trở nên phong phú thêm lên: trễ / muộn
/ tŕ trệ; khuân / vác / cầm / mang / bưng / đem [23], và (c) hai từ, mỗi từ xuất
từ một bộ tộc khác nhau sẽ hợp lại cho ra một hợp-từ đa âm, nghe êm tai hơn, và
tộc nào nghe cũng hiểu: tâm địa, nước non ('non' cũng có nghĩa: 'nước'), màu sắc,
thâm sâu, đen huyền, thân thể, thân ḿnh, đường xá, sinh đẻ, bông hoa, v.v. Ở
khía cạnh này chúng tôi để ư, khi một quốc gia hăy c̣n trong t́nh trạng chưa
hoàn toàn nhất thống, một từ tiếng Tây hay tiếng Việt rất thường mang nhiều từ
cùng nghĩa trong tiếng 'nước' đó. Điển h́nh: tiếng 'nước' Chăm-pa [8], làm lễ=
hayăm, katăt, ngă?, đayôw?, thaw băh.
4) Không dựa vào tiền đề cố hữu của người Hoa: dân tộc ít người thuộc giống thiếu
văn minh, không phải Hoa-Hạ. Có thể đúng một phần nào trên quan điểm của người
Hoa-Hạ thuần túy, ở phía Bắc. Nhưng hoàn toàn sai trật đối với miền Hoa Nam và hầu
hết các quốc gia ở Đông Nam Á. Đây có lẽ là thứ định kiến tai hại nhất do thế lực
phía Bắc truyền đến phía Nam và rất nhiều nơi ở miền Đông Nam Á. Hăy c̣n mang dấu
ấn rất mạnh cho đến ngày nay tại nước Myanmar. Ở đó nhà cầm quyền dán vào các
nhóm người dân tộc một nhăn hiệu 'phiến loạn'. Rất tiếc các nhà nghiên cứu Tây
phương cũng có vẻ không mấy để ư đến chuyện hết sức gút mắt và phức tạp nầy. Tuy
vậy, đôi khi có vẻ họ cũng chứng tỏ họ đă rành nghề 6 câu, khi họ xử dụng nó như
một công cụ phục vụ cho những mục tiêu chiến tranh và chính trị. Ngược lại,
chúng tôi cho rằng có một mối liên hệ rất mật thiết giữa các sắc người dân tộc với
người Kinh, trong vấn đề huyết thống, và cốt lơi văn hoá, ít nhất trong thời cổ
đại xa xưa.
Bây giờ chúng tôi xin phép bàn về một vấn đề gút mắt khác. Đó là chuyện xếp loại
nhóm ngôn ngữ tiếng Việt. Ngày trước, tiếng Việt thuộc nhóm Môn-Khmer, thuộc hệ
Nam Á. Từ khoảng những năm 1970, tiếng Việt thay đổi tên nhóm, và khoác lên một
tên mới: nhóm Việt-Mường. Từ dạo đó về sau, các công tŕnh nghiên cứu tại Việt
Nam, có vẻ v́ quá thích thú với tên gọi mới, đă dần dà mang khuynh hướng tách xa
khỏi tên cũ là Môn-Khmer. Cái thói quen chuộng mới quên cũ rất phù hợp với 'Nguyên
Lư Heisenberg' c̣n gọi 'Nguyên Lư Bất Định', thuộc khoa Vật Lư. Một trong hai
nguyên lư của khoa học cứng mà chúng tôi cho rằng có thể đem áp dụng rất hữu hiệu
cho các ngành thuộc khoa nhân văn. (Nguyên lư kia là 'nguyên lư bảo toàn năng lượng').
Đại khái, nguyên lư Bất Định cho biết khi một vật thể được miêu tả bằng hai hay
ba đại lượng, một khi ta đo được khá rơ về đại lượng này, th́ mức chính xác của
đại lượng kia sẽ bị suy giảm. Nôm na hơn, nếu hạt điện tử được miêu tả bằng vị
trí và cái trớn chuyển động của nó, một khi ta biết rơ về vị trí th́ sẽ mù mờ một
chút về cái trớn của hạt điện tử. Hoặc ngược lại. Trong văn hoá Á Đông ngày trước,
người xưa ưa nh́n nhận 'tài đức vẹn toàn' hay 'văn vơ song toàn' là một chuyện rất
khó. Hết sức khó. Nguyễn Du cũng ghi lại: 'Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau'.
Được cái này phải mất cái kia. Giới nghiên cứu tại Việt Nam, chụp được tên Việt
Mường, dần dà sẽ phải quên đi tên cũ của nhóm tiếng Việt: tiếng Việt ở tầng lớp
cơ bản thuộc nhóm Môn-Khmer.
Thật ra không những chỉ giới nghiên cứu Việt Nam bị rơi vào 'nguyên lư Bất Định',
học giả Âu Mỹ cũng không hơn ǵ, và cũng như rứa mà thôi. Xin xem kỹ một số vấn
đề sau:
a) Như đă tŕnh bày phía trên, phân loại Nam Á, Nam Đảo, Malayo-Polynesian,
Mon-Khmer, rồi... Indonesian cho các thứ tộc người và ngôn ngữ, là thứ phân biệt
khá lủng củng của các học giả Tây Phương. Có vẻ như kết quả tất yếu khi chưa thấu
đáo vấn đề, cũng như thiếu thốn hợp tác chặt chẽ giữa giới ngôn ngữ học và khảo
cổ / dân tộc học. Tộc người Indonesian là tộc người thế nào? Tộc này liên hệ đến
tộc Môn-Khmer ra sao? Có ǵ khác nhau giữa tộc Indonesian với tộc Malay (trong hợp
chủng Malayo-Polynesian) hay chăng? Thế ngôn ngữ cốt lơi của tộc Inđônêsiên là
ǵ? Phải là tiếng Inđônesian cổ hay chăng? Họ lộn xộn tả pín lù cả lên. Nhưng rất
ít ai để ư. Nhất là chủng Inđonesian. Học giả Đào Duy Anh thích xử dụng tên
Inđônêsiên cho chủng nguồn gốc tộc người Việt Nam, trong khi B́nh Nguyên Lộc lại
khoái Mă Lai. Để ư, lúc họ tập trung với một trong các thứ tộc họ đặt tên cho khối
Đông Nam Á, họ thường lu mờ đối với các tộc khác.
b) Để ư ở phương diện 'dân-tộc-học', người Hoa có vẻ đi trước Tây Phương cũng
trên cả ngh́n năm. Từ ngàn xưa, khi đối tác với các nhóm rợ ở 4 phương, họ đă
miêu tả khá rơ bằng chữ viết tượng h́nh, đă tŕnh bày trong một số bài trước:
Tây Nhung, Bắc Địch, Đông Di và Nam Man. Xin chú ư đến nhóm Tây Nhung, xuất phát
từ hướng Tây. Đây chính là nhóm người đă làm cỏ Cảo Kinh, thành đô của nhà Tây
Châu vào năm 770 TCN, khiến cho vua mới phải dời đô về Lạc Dương ở phía Đông. Phần
chính yếu của đám rợ Tây Nhung, tức Khuyển Nhung, chính là hai đám Để 氐 và
Khương 羌, gọi chung Để-Khương, mà chúng tôi cho rằng chính là lối gọi người Hoa,
dành cho 'cặp bài trùng' Môn-Khmer. Tra cứu trên internet cho biết có một đám
Khương dừng chân tại nước Tàu và định cư ở một vùng đất mang tên Gao Mian (Cao
Miên) mang nghĩa 'người ở vùng đồi núi cao, sản xuất tơ sợi'. Tương tự, ngày trước
người Hoa-Việt ưa gọi nước Lào bằng 'Ai Lao'. Ai Lao chính tên một rặng núi tại
Vân Nam, nơi xuất phát nguyên thủy của người Lào. Tóm lại đối với kiến thức người
Hoa, không có tộc nào mang tên Inđônexia hay Mă Lai hết, mà chỉ có nhóm người từ
phía Tây, mang tên: Để-Khương hay Môn-Khmer. Thường gọi tắt Khương tộc. Điểm gốc
xuất phát của họ chính là vùng b́nh nguyên chung quanh xứ Tây Tạng ngày nay.
c) Rơ nét nhất trong 'nguyên lư bất định' đối với 'các' tộc người Việt cổ xưa,
cũng vẫn là cặp bài trùng 'Môn-Khmer'. Phản ánh qua người Chiêm (Thành), tức
Chăm-pa. Hễ tập trung vào Môn, th́ Khmer sẽ lu mờ. Hay ngược lại. Bởi người Tây
phương sắp xếp lộn xộn cho dân Chiêm thuộc gốc Malayo-Đa-đảo, nên họ quên khuấy
đi mất tộc người chủ lực từ vùng Thanh Hoá chạy qua Inđônêxia, Phi-Luật Tân, xuống
Mă Lay Á, và nhiều quần đảo dọc theo Thái B́nh Dương, theo thiển ư, là nhóm: Môn
Khmer. Điểm vô lí nhất trong câu chuyện Malayo / Inđônexia / Mon-Khmer, chính là
ta ít khi hoặc không hề nghe tiếng nói cốt lơi của các tộc Inđônêxia hay Malay
là ǵ, và cũng ít khi nghe đến tộc chính xử dụng các thứ tiếng thuộc hệ
Môn-Khmer. Họ cũng mơ hồ trong gạch nối giữa chủng Inđônêxia và dân nước
Inđônêxia ngày nay. Cũng như tộc Mă Lai và dân nước Mă Lay Á. Theo lư thuyết
chúng tôi, tộc Mon-Khmer là một trong các tộc chủ lực của rất nhiều nước ở Đông
Nam Á, gồm cả Inđônêxia và Mă Lay Á. 'Nguyên Lư Bất Định' xảy ra cho xứ Chăm, ở
2 cấp. Cấp 1, họ sắp dân Chăm vào khối Malay-Đa-đảo, nên quên đi Môn-Khmer. Ở cấp
2, nếu mơ hồ liên kết tiếng Chăm với nhóm Môn-Khmer, họ chỉ tập trung được 1
trong 2 đặc tính sau: (i) Tiếng Môn (bà con với tiếng Myanmar ngày nay) có vài
ba 'thinh', tức tone, từ mang thanh điệu kiểu có dấu. (ii) Trong khi tiếng Khmer
lại chỉ một thinh, giống tiếng Hải Nam, Inđônêxia, Mă Lay, phần phía bắc Trung Bộ,...
Hoặc (i) Người Môn có khuynh hướng chôn người chết trong mộ chum (ṿ). (Điển
h́nh là văn hoá Sa Huỳnh, xem [13]). (ii) Trong khi Khương tộc nổi tiếng với lối
hỏa táng, từ khi họ c̣n ở bên Tàu, phản ánh qua lối hỏa táng của vua Chế Mân,
phu quân của Huyền Trân Công Chúa.
d) Chi tiết bất định kể trên đă khiến các học giả Tây Phương khó dứt khoát về tộc
gốc của người Chiêm, hay nguồn gốc tiếng Chiêm (xem [17] [18]). Họ đưa ra một giải
pháp thứ ba: tộc hỗn hợp Mă Lay - Đa đảo. Họ cũng ít khi xác nhận văn hoá Sa Huỳnh
(thuộc Quảng Ngăi ngày nay) thuộc nhóm tộc người nào ngày trước. Bởi theo sử
sách, của Tây và Tàu, nước Chiêm lập quốc vào khoảng thế kỷ thứ 2, sau văn hoá
Sa Huỳnh cũng khoảng 3-7 thế kỷ. Một trong những điểm đặc trưng của văn hoá Sa
Huỳnh, chính là mộ chum, mộ ṿ, kéo dài sang cánh đồng Chum bên Lào. 'Nước Chăm'
thật ra cũng không phải đơn thuần 1 nước như nhiều người thường nghĩ, mà thật ra
có đến (ít nhất) 5 tiểu quốc (Indrapura, Amaravati, Wijaya, Kauthara, Panduranga
[19]) thường xuyên choảng với nhau (xem [15][16][17][18]). Po Dharma [15] cũng
cho biết kết quả những nghiên cứu mới nhất, rằng toàn thể các xứ Chiêm Thành tan
ră không phải vào năm 1471 theo sử Việt, mà chính là năm 1832 khi cứ địa cuối
cùng Panduranga (Phan Rang - Phan Rí) giải thể.
e) Nguyên lư bất định phản ánh qua tiếng Chăm như sau: Theo từ điển Chăm [8], do
Trung Tâm Văn Hoá Chàm - Phan Rang xuất bản, tiếng Chăm có 4 thinh (thanh điệu),
tức có 4 thứ dấu - trong đó có dấu nặng khá nhiều. Nhưng gần đây, Lafont [18]
cho biết từ điển Chăm được soạn dựa trên phát âm vùng Phan Rang. Tiếng Chăm ở
Châu Đốc và bên Cam-Bốt thật ra chỉ có 1 thinh mà thôi. Lư giải chúng tôi: Ở hạ
tầng, người Chăm thuộc khối Môn-Khmer. Hỗn hợp Môn và Khmer. Tiếng Môn, cùng gốc
với tiếng Myanmar ngày nay, là thứ tiếng có nhiều (~ 4) thinh. Tiếng Khmer lại
chỉ có 1 thinh. Do đó ở những vùng có tộc Môn làm chủ lực, tiếng Chăm có nhiều
thinh. Ở những khu vực xử dụng tiếng Khmer cơ bản, tiếng Chăm lại chỉ có 1 thinh.
Thường thường thinh dấu nặng. Phân tích này cho thấy, nếu dựa vào các phân loại
Nam đảo hay Malay-Đađảo, và hoàn toàn không biết đến nguyên lư Bất Định
Heisenberg, rất khó lư giải 2 hệ thanh điệu cơ bản của tiếng Chăm.
f) Nguyên lư Bất Định Heisenberg thật ra trở nên rất quan trọng trong việc truy
nguồn gốc tộc các dân miền Đông Nam Á. Đại khái, nguyên lư luôn nhắc nhở người
nghiên cứu không nên tập trung vào một tộc người duy nhất trong vấn đề sử, dân tộc,
khảo cổ học, v.v. mà cần để ư trong mọi trường hợp đóng góp hay ảnh hưởng của từng
bộ tộc trong chiều dài lịch sử. Xin trở lại câu chuyện đảo Hải Nam. Nếu tra cứu
trên mạng về đảo Hainan, hay tộc người Hmong (Miêu hay Miao) và Li (Lê), chúng
ta thấy những nguồn từ các tác giả Hoa hoặc dựa trên tài liệu Hoa, cho biết: dân
Hải Nam = Miao + Li + Hán tộc (tức di dân từ lục địa). Họ khá mơ hồ về tộc Li tức
Lê. Chỗ nói họ thuộc nhóm Thai-Kadai, chỗ nói thuộc Khương tộc,... Một vài chỗ lại
miêu tả thổ dân họ thuộc nhóm Malayo-Polynesian, y hệt như Chiêm Thành. Nhưng
khi dùng Malayo-Polenesian, không thấy họ dùng tộc 'Li', tức Lê. Nếu thử phối hợp
các chi tiết sau đây: (i) Tiếng Hải Nam là một trong ít thứ phương ngữ Trung Hoa,
chỉ có 1 thanh điệu (thinh) mà thôi. (ii) Tiếng Môn-Khmer có một bộ phận (Khmer)
chỉ mang 1 thinh mà thôi. (iii) Người Chiêm ngày xưa vào những lúc hoạn nạn khốn
cùng, có khuynh hướng chạy về Hải Nam ẩn nấp. (Giống như các tôn thất nhà Lư chạy
về miệt Sơn-Đông / Triều Tiên, sau những đàn áp và khủng bố của Trần Thủ Độ). (iv)
Cả Hải Nam và Chiêm Thành đều có tộc bản địa thuộc khối Malay-Đađảo. (v) Đặc biệt
Hải-Nam có 2 tộc bản địa lâu đời: Miao và Li. DO ĐÓ, ta thấy khá rơ, Lê tộc
chính là một nhánh của Khương tộc hay nôm na hơn, thuộc khối Môn-Khmer. Giống
như Chăm. Và tộc người Malay có thành phần ṇng cốt thuộc khối Môn-Khmer.
Bây giờ xin xem lại đẳng thức hợp chủng người Việt:
Việt Nam= Âu (Thái) + Lạc (Việt) // Thái + Môn-Khmer + Đa đảo + Nê-gri-tô.
• Dấu // mang nghĩa: 'trên nền tảng bản địa'.
• Chủng Âu tức Thái cổ bao gồm nhiều sắc dân Bách Việt, sống ở miền trong nước
Tàu, từ khu vực Vân Nam chạy theo sông Dương Tử sang Động Đ́nh Hồ, xuống phía
Tây An Huy, phía Tây Phúc Kiến, rồi Quảng Đông. Phân biệt này mang tính cách tổng
quát, chú trọng đến chủng chỉ đạo khu vực mà thôi. Có nghĩa tại Quư Châu, phía Bắc
Quảng Tây, có thể có rất nhiều người thuộc Miêu tộc. Ở Vân Nam, có khá nhiều
Khương tộc từ khu Tứ Xuyên hoặc miền Tây, và Bộc Việt chạy từ khu Hoàng Hà xuống
từ thời xa xưa.
• Chủng Lạc, do chúng tôi phân biệt và tách ra khỏi lối dùng 'Lạc Việt' [Luo Yue]
hết sức lộn xộn của người Hoa & Âu Mỹ. Bao gồm phần lớn, các nhóm Việt hay Lạc
xưa sinh sống ở miền ven biển nước Tàu: Hẹ (kể cả Hmong-Mien) xuất xứ từ khu vực
Sơn Đông, Ngô-Việt từ vùng Giang Tô - Chiết Giang, Mân Việt, gồm Phúc Kiến-Triều
Châu. Mỗi một tộc chính như vậy (thí dụ: Hẹ hay Hakka) có thể bao gồm ít nhất là
10 bộ tộc tuy cùng chủng nhưng khác ... họ với nhau.
• Ba chủng chủ lực sinh sống lâu đời tại bản địa chính là: Thái, Môn-Khmer, và
Đa-Đảo. Nhóm Nê-gri-tô người thấp tóc xoăn, cũng có mặt ở miền Hoa Nam, c̣n gọi
Hắc Nụy. Chủng Thái-cổ có mặt tại Việt Nam trước hoặc cùng thời với chủng Môn
Khmer. Văn hoá xưa nhất của họ chính là văn hoá Hoà B́nh do bà Madeleine Colani
khám phá hồi đầu thế kỷ 20. Ngày nay tại Hoà B́nh dân Mường chiếm tỷ số gần 70
phần trăm. Người Môn Khmer, theo thiển ư chính là chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh
t́m ra ở Quảng Ngăi. Thật ra rất khó xác định ai là người Việt đầu tiên giữa:
Thái-cổ và Môn-Khmer. Tuy nhiên chúng tôi nghiêng hẳn về Môn-Khmer bởi các lư do
sau:
a) Mặc dù chủng Thái cổ ngày nay đông đảo hơn người Môn Khmer (Thai-Kadai= 3.9
triệu & Môn-Khmer= 2.5 triệu nếu kể luôn 0.5 triệu thuộc Nam-đảo, theo đề nghị
chúng tôi), nhưng chủng Thái-cổ chỉ tập trung ở phía Bắc (đặc biệt khu biên giới
Việt-Hoa & Việt-Lào) cho đến Quảng B́nh, trong khi tộc Môn-Khmer [30] hiện diện
từ khu vực Thanh Hoá chạy tuốt đến gần Cà Mau, cộng với một hai địa điểm gần
sông Đà và biên giới nước Lào.
b) Tiếng Việt cổ nhất, phản ánh qua hệ thống số đếm và các từ 'Nôm' cơ bản mang
gốc gác Môn-Khmer [30].
Trước hết xin xem qua hệ thống số đếm trong tiếng Việt, tŕnh bày đối chiếu với
các thứ tiếng Môn-Khmer [25], tiếng Cam-Bốt ngày nay [26], tiếng Chăm-pa [8],
Hmong [27] và Mường [28], trong Bảng I.
Xin khảo sát nguồn gốc từng số đếm:
- 0 => tương ứng với [kong] hay [ling] tiếng Hoa. Sang tiếng Việt: 'không' và 'linh'.
'Linh' thay đổi ư chút ít, chỉ số lẻ. 'Không' tiếng Tàu mang nghĩa khác: 'ở
không', 'trống không'.
- 1 => cùng gốc với Môn-Khmer / Khmer. Tiếng Mường: [moch] cho thấy không phân
biệt âm cuối [t] hay [c], như kiểu Nam bộ.
- 2 => [Hnyi] tiếng Myanmar, cùng gốc với vài bộ tộc Môn. [Hnyi] trong thế giới
đơn âm, tách ra làm hai: [Hờ] và [nyi]. [Hờ] (và [Ar] tiếng Môn-Khmer) tiến đến
=> [Hal] tiếng Mường, và [Hai] theo kư âm quốc-ngữ. [Hờ] cũng sinh ra [Er]
quan-thoại. Trong khi đó: [Nyi] sinh ra [ý] tiếng Quảng Đông, và [nhị] hay [nh́]
(hạng nh́) tiếng Việt. Ta thấy khá rơ, người Hoa cũng xài chữ đếm số 2 của tộc
Môn-Khmer. Để ư [Er] quan-thoại có phát âm giữa [ê] và [ơi]. Ở tiếng Mă-Lai (cũng
có phần thuộc gốc Môn-Khmer) [Hai] mang nghĩa giống tiếng Mỹ [Hi] => Nôm-na [ơi]
hay [hỡi]. [Hai] Mă-Lai = [Ơi] Việt, do đó có gốc tiếng Môn: [Hnyi].
- 3 => cùng gốc Môn-Khmer. Thấp thoáng tiếng Hmong cũng có âm rất giống: [bei].
Cũng để ư cách gọi [ba] (3) cũng có thể hoán chuyển từ số 2 của một bộ tộc thuộc
Môn-Khmer, gọi 2 bằng [baar].
Bảng I: Hệ thống số đếm tiếng Việt
Số (Việt) Môn (M-K) Khmer (CamBốt) Chămpa Hmong Mường Ghi Chú
0 (không / linh) suon soan thôh / ôh voj không = [khong] PK / [ling] Hoa
1 (một) muờ / mwai / sa muay tha / sa ib môch KhM / Mg
Malay: satu
2 (hai) baar / er / ar bpie twa / dua: ob hal = Hnyi (MĐ), Hal (Mg)
3 (ba) pi / poe bei / bay klow peb [bei] pa KhM / Hmong
4 (bốn) pôn / par /pa' buôn / pôn pa? plaub pôn KhM / Mg
5 (năm) mxun/ peson brăm lamư tsib đăm KhM / Mg
6 (sáu) parau / kerao / nam * bram-muay/prau năm * rau [tchau] * khảu Hmong /
Môn
Formosa: num *
7 (bảy) poh, thapal, tajuh brăm-pia (5+2) tasuh xya páy M / Mg
8 (tám) hơcham, tapan, takual, takôl brăm-bay (5+3) talipan / tapan yim (đọc [zi])
thảm Chăm/M / Mg/ aTa -Sinhalese
9 (chín) dachit, samlân brăm-buan (5+4) pirow / thalipan cuaj [tchuat] chỉn M /
Mg
10 (mười) choh, sa-pluh, tswas dop pluh / sapluh kaum [kảu] mươl M (V:chục)/ Mg
20 (haimươi) băar-choh mopey đwa pluh nees nkaum halmươl số > khổ (Mg)
100 (trăm) ratuh, tsus ruoy tha rituh (ib=1) puas tlăm
10000(muôn/ vạn) dta thàun, tsaquâ meun tha tamưn meem / (ib) vam muôn / văn [wan],
qđ [maan] triệu = 100 vạn
- 4 => Cùng gốc Môn-Khmer. Tiếng Môn-Khmer giống tiếng Chăm [pa?]. Trong khi tiếng
Khmer giống rất rơ: [pôn]
- 5 => Có thể cùng gốc tiếng Khmer: [bram]. Phát âm [lăm] trong [mười lăm] (15)
lại cùng gốc tiếng Chăm: [lămư]. [Dăm], trong 'dăm ba túp lều' lại là phát âm Mường:
[đăm] <=> [đjăm] => [jăm]. Bởi hệ thống đếm người Khmer dựa trên hệ số 5, người
Mường dựa trên hệ số 9, nên có một ít lộn xộn xảy ra khi cả hai nhập lại dùng hệ
số đếm theo cơ 10 như ngày nay [29]. Đó là tiếng Việt xử dụng [năm] của tiếng
Chăm và Môn-Khmer dùng cho số sáu (6) {xem Bảng 1} mà đọc lên con số 5 => [năm].
- 6 => cùng gốc với tiếng Môn-Khmer: [prau] và Chăm: [rau] và [tchau]. Tiếng
Môn-Khmer và Chăm cũng cho [năm] đă chuyển về số 5. Số 6 cũng có gốc Ba-Tư
(Iran) [shesh] và Myanmar (cùng gốc Môn): [chow].
- 7 => bảy => giống tiếng Môn-Khmer: [poh] và [(tha)pal]. Cũng có thể chuyển từ
số 8 trong tiếng Khmer: bram-bay (5+3) => bay (=3) từ số 8, chạy xuống 1 cấp
thành: 7 (bảy).
- 8 => cùng gốc Môn-Khmer và tiếng Chăm. Tiếng Persia (Ba Tư) là [hasht] sinh ra
[hachi] tiếng Nhật, [aath] tiếng Ấn, và [aTa] tiếng Sinhalese của Sri Lanka. [aTa]
có âm thứ 2 cũng giống 'tám' (8).
- 9 => chín. Cùng gốc tiếng Môn-Khmer [dachit] và khá giống tiếng Hmong: [tchuat].
Xa xa, tiếng Ấn gọi số 6 là [cheh] khá giống 'chín'.
- 10 => mười. Có thể do ở lộn xộn giữa cơ số 5 tiếng Khmer, cơ số 9 tiếng Thái-cổ,
và 10 do người Hoa đem tới. Xuất phát từ tiếng Khmer cho số 11: [dop-mooyh] hay
[dop-muay] (10+1). Chỉ xử dụng âm [mooyh] ở cuối => [mười]. Để ư tiếng Môn-Khmer
cũng có [choh] dành cho 10. [Choh] sinh ra [chục] tiếng Việt rất dễ.
- 10000 => vạn / muôn. Chúng ta đă biết 'vạn' là lối đọc người Hẹ cho quanthoại
[wan], và [muôn] là lối đọc Thái Quảng Đông [maan] cho vạn. Ở đây ta thấy cặp 'vạn
- muôn' có bạn đồng hành: [meun] Khmer, [tamưn] Chăm, [meem] hay [vam] tiếng
Hmong.
Bây giờ xin xem qua Bảng II, tŕnh bày một số từ đối chiếu thông dụng giữa Việt
và Môn-Khmer.
Bảng II. Đối chiếu các từ thông dụng
Việt Môn Khmer Chăm-pa Tiếng khác Ghi Chú
cằm ZanKa, jangKa, kuam kang Kang (Thái), kam(qđ) Kam= Qin (qt)=>琴
cây / gỗ kaxu, kixe kayow kayu (Malay= ML) ki (Nhật)
cắt pas (vạt, vát), tak kêh. caKă? kat (Hẹ) 刻 quanthoại [ke]
bông pung, bunga pingu Bunga (ML), beng qt bung (Hẹ) 菶
mày (mi) mei, mai, mi?, mơ?, maiq limay mei mao (qt) ?=tắc-âm >mi?=miq
tóc xok, xăk, xo, usuk, xoak bu? bulu (Malay), rambut Mường: thăk
môi Nh?joy, nzoy, mboy, tmor caBoy wen (qt) 吻 man (QĐ) => môi
khạc khak, khaak, rkhaak kahak kak (Hẹ), ke / hai (qt) 咳 khat (Thái) =ho
(ho <= hai, - qt)
to (mập) toar, toh, tơr, ma?, gemak limưq besar (ML)=>bự, béo gemuk,leMak >mập
trâu trak, krapư, kơpô, tâk, krak kabau, trêy tlu / klu (Mg) trâu= trak + tlu
mũi Muq, muqa, muh, mơh atung qbBui (Dao) Thái: jamuh
mặt Paras, parat, mukh, meat, mêl, mat, măt mưta, mata Mian (qt) 面, mak (Hẹ) 墨
=> xâm-mặt Men (Hẹ), min (qđ) myen (Hàn) => diện
mắt Măt, mat, mơt, mơtaq mưta Mata (Malay) Lính mả-tà
miệng/mơm Monh, mong, muanh, mpaq, mot, mănh, mom, tamun mabah, cabong mulut
(ML), mồm & mẽnh (Mg) Hoa: 呡 [man] hay [mai]咡=khoé miệng mang âm gần.
mẹ me? me?, meh meh (T), mère (P) nhiều tiếng âm M
má (cheek) Mo, taMoq, boq, tambok miêng biadab (ML) Thái: [kam] > cằm
máu mam, mia, mahêam, mayam măn-ni Hiet (Hẹ) 血 => huyết [maak](Hẹ)脈 >[mo]
cổ (neck) ko / ka, ko, kong, kok, koah ri?, takôy kôl (Mg), gô (Thái) M-K <=>
Thái
tay têy, đai, đay, ti, thay, taiql tangin thay (Mg),shou (qt)手 tangan ML提 tai (qđ)
bụng / ḷng pôn, pung, palung, pul tung, tyan bung (T), tlung (Mg) T=Thái. Mg=
Mường
lưỡi lataak, lơntak, loai, liơh dilah, đalăh ĺn (T), lidah (ML) lei (qđ)月利 she
(qt) 舌
đầu tu, pơtaw, nqo-oqm, qo-oq akô?,halow tou (qt) tau (qđ) 投 oq => óc. qo => sọ
chân/ cẳng / gị chêng, jun, jơng, koq, chin, djoong, jong, djan le, đanoq chơn
/ choo (Mg) ka (Hẹ) 脚
Xem qua Bảng II, ta thấy rất rơ: Có mối liên hệ hết sức mật thiết, giữa những từ
cơ bản của nền văn hoá cổ thời, trong tiếng Việt, Môn-Khmer và tiếng Chăm. Chúng
tôi không nhấn mạnh ở điểm tương đồng giữa tiếng Việt và Mường, bởi đă thiết lập:
Người Mường mang ảnh hưởng đậm nét của chủng Thái-cổ, bà con gần nhất với một
trong 3 tộc người chủ lực tiến tạo nên người Việt Nam. Để ư tiếng Môn-Khmer có
khá nhiều từ cho cùng một nghĩa, bởi hăy c̣n trong t́nh trạng chưa nhất thống
các bộ lạc. Đặc biệt âm [muanh] hay [manh] mang nghĩa 'mồm' / 'miệng' giống y
như tiếng [manh] do đại sứ thời Nguyên (thế kỷ 13) Trần Cương Trung ghi lại, với
nghĩa chữ 'khẩu' (Hoa), trong 'Sứ Giao Châu Tập' than phiền tiếng An-Nam là tiếng
man-di (xem [1]).
Xin tiếp tục quan sát các từ chỉ những sự vật gần gũi nhất của người xưa, như đầu
ḿnh tứ chi, trong Bảng III.
Bảng III. Các từ cơ bản từ ngàn xưa. (Nhấn mạnh gốc Hoa Nam và Môn-Khmer)
Việt Tiếng Hoa cùng Gốc Hán tự Phương ngữ gốc Hoa Chăm Nôm cùng Gốc Xuất xứ Nôm
đầu tou, tau 頭 QT:quanthoại QĐ: quảng-đông kô, tau? - tu (=đầu=> tù, tù trưởng),
- paTAU M-Kh
Chrau, Jeh
Bahnar
thân-thể, thi-thể shen (1), thi (2), the (2) 身 (1) 體 (2) (1) QT, Hẹ.
(2) Ngô / Mân thăp - tuar
- iThâng
- thino - Thái
- M-Kh.
- Đa-đảo
ḿnh mi, mei, mE 枚 Hẹ, QT, Ngô drey chắc (Trung) <= saqaq M-Khmer
tay tai (1), sau (2) 提 (1) 手 (2) QĐ (1) (2) tangin
tangơl Tay
thay -Khmer
-Mường
cẳng, chân kiok 腳 Mân danoq kar Thai
chân, gị chiuk (1), giok (2) 足 (1) 脚 (2) QĐ (1) Hẹ (2) joeng Khmer
cơm / gạo zok, tsao (1) wo, ho (2), gwo, go, koe (3) gang (4) 鑿 (1) 禾 (2) 粿 (3)
秔 稉 (4) QĐ, QT(1) QĐ, Mân (2-3) QĐ (4) prăh kaow Thái
thịt tit (1), thiq (2), sit (3), zi (4) 剔 (1,2) 腊 (3) 胏 (4) Hẹ (1) Ngô (2) Hẹ(3)
QĐ (4) athăr sihn(1) sat (2) Lao (1) Khmer (2)
cá kiet, kwai, koe (1), kwan, kun (2) kwan (3) 鱖 (1) 鯀 (2) 鰥 (3) Hẹ, QĐ, Mân
(1), QĐ , Mân (2), QĐ (3) ikan kan, ka, kaa, ka? Mon-Khmer
rau / cải zau (1), gau, gaau (2) tsai (3) kuai, kwi (4) tsaa, tsai (5) 油 (1) 茭
(2) 薺 (3) 蕢 (4) 荼 (5) Hẹ (1), Hẹ, QĐ (2-3), QT(4), QĐ -QT (5) răm ka-lam Lao,
Thai
nước daan, dun (1) non, nyun, nuan (2) nong, nang (3) 澶 (1) 渜 (2) 灢 (3) QĐ QT
(1) Hẹ, QĐ QT (2) Hẹ QĐ QT (3) nưghăr - đác => nác
- đaq, nhyom, om, danum,... - Mường
- Mon-Khmer
mưa muk, muk, mu (1)
mak, mak, mai/mo (2) 霂 (1) 霡 (2) Hẹ QĐ Qt (1)
Hẹ Qđ Qt (2) rapuq-tatho,
hasan - mưa
- miaq, mia, miq, miiwh
- ua, uran, uha -Mường
-Mon-Khmer
-Nam-đảo
người ngin (1) ngai (2) 人 (1) 顖 (2) Hẹ (1) QĐ (2) urang, mưnuy ho, nqul, qalawu,
ngol, mơnui Mon-Khmer
Cũng giống như Bảng II, mối liên hệ giữa các từ cơ bản trong tiếng Việt - Chăm -
Môn-Khmer - Thái, được thể hiện hết sức mật thiết. Đặc biệt hơn nữa, chúng ta
thấy các phương ngữ tiếng Hoa cũng có những từ, tuy chỉ mang nghĩa gần giống,
nhưng lại có âm rất giống. Thí dụ: tiếng Việt: 'mưa' chỉ 'cơn mưa' hay 'trận
mưa' với nghĩa chung chung. Âm gần giống trong phương ngữ Hoa Nam: [muk] hay
[mu], hoặc [mak] hay [mai] hay [mo] của các thứ tiếng Hẹ, Quảng Đông, Quan
Thoại, mang nghĩa: 'mưa phùn'. 'Nước' tiếng Việt, tương đương tiếng Mường là
'đác' hay 'nác'. Các phương ngữ Hoa có: [daan] rất giống 'đác', và [nyun],
[nuan] hay [non] gần với 'nước' hay 'nác'. Để ư [non] gợi cho ta ư tưởng 'non'
trong 'nước-non' cũng có thể đồng nghĩa với 'nước'. Ngoài nghĩa 'non' = núi nhỏ,
mang gốc Khmer: phnom. Những từ này ở tiếng Hoa không mang thẳng nghĩa 'nước',
nhưng có thể mang những nghĩa phân loại như: 'nước sâu', 'nước lặng', 'nước ấm',
v.v. Tiếng Chăm của 'nước' là [nưghâr] có âm rất giống 'nước' nhưng ở trạng thái
đa-âm, không chịu ảnh hưởng tiếng Hán. Tương đồng của tiếng Nôm kiểu Chăm-pa hay
Môn-Khmer với phương ngữ Hoa Nam cho biết một điểm rất quan trọng: Những tộc
người ngay như Chăm-pa ngày xưa cũng đă có mặt ở Hoa Nam. Một số trang mạng về
người Li (thí dụ [14]), mà chúng tôi cho rằng cùng hệ với người bản địa Hải-Nam
và Chăm, cho biết người Li (Lê) 黎 thường tập trung ở vùng bờ biển phía Nam nước
Tàu [31].
Bảng IV. Hiện tượng chữ 'M' [11]
Việt Tiếng Hoa cùng Gốc Hán tự Phương ngữ gốc Hoa Đa-đảo Chăm Tiếng bản địa Xuất
xứ
Mặt men, min, mian, mI (1) met, mặc, maak, mâq (2) 面 (1) 墨 (2) Hẹ Qđ Qt Ngô (1)
Hẹ, V, Qđ, Ngô (2) mata Mưta
Bo?=>bộ mặt - Muk
- Măt
- Khmer
-Mường
Mắt muk, mOq, b(m)ak 目 (1) (1) Hẹ, Ngô, Mân (PK) (Phúc Kiến) mata
kamo Mưta mat, măt, mengta, metaq, taq Mon-Khmer & Mường
Mi mi, mei, mei 睂 Hẹ, QĐ, QT kamo ----- katiq met Mon-Khmer
Mày mi, mei, mei, mE 眉 Hẹ, QĐ, QT, Ngô tuke-mata liMay laMay - mi
- hak kitaq -Mường
- Mon-Khmer
Mũi bei, bi 鼻 QĐ (Quảng Đông), QT (Quan Thoại) ihu iđung
ađung j'ra-moh
mùi
muk,mũ, muyh, muh -Khmer
-Mường
-Mon-Khmer
Miệng Mồm man (1) mai (2) 呡 (1) 咡 (2) QĐ (1-2) mangai
momoho ngutu caboy, cabong - mồm, mẽnh -Mường
Môi man (1)(2) men, man, min (3) 肳 (1) 脗 (2) 抿 (3) QĐ (1-2) Hẹ, QĐ, QT ngutu
tong-caboy - moa-ut
- môi - Khmer
-Mường
Má mau, maau, mao, mO, mau (1) yan (2) 貌 (1) 顏 (2) Hẹ, Qđ, Qt, Ngô, Pk (1)
Qt (2) papa-ringa Miêng mả Mường
Bây giờ xin thử xem lại hiện tượng chữ 'M' trên 'mặt' tiền nhân. Hiện tượng chữ
M có lẽ đầu tiên do Nguyễn Cung Thông [11] tŕnh bày trong một quyển sách khảo
luận ngôn ngữ do tác giả xuất bản. Theo đó đa số các từ tiếng Việt dùng để chỉ
bộ phần trên mặt đều bắt đầu bằng âm chữ M: mặt, mắt, mũi, miệng, mồm, má, mụn,
mi, mày, môi. Bảng IV do chúng tôi đúc kết so sánh các từ này giữa tiếng Việt và
các thứ tiếng Hoa Nam [33], Chàm [8], Đa-đảo [26], và hai tiếng bản địa:
Môn-Khmer [25] và Mường [28]. Lần đầu tiên, trong các công tŕnh khảo sát tiếng
Việt, chúng tôi tŕnh bày tiếng Đa đảo, thể hiện qua các thứ tiếng Tahiti,
Samoa, New Guinea, và Maori [26].
Chúng ta có thể để ư đến những điểm sau:
Các từ mang âm chữ M ở trên bộ mặt đều được thể hiện trong các phương ngữ
tiếng Hoa. Đặc biệt [bei] hay [bi] (= mũi) ngày trước được các tôn sư quốc ngữ
chuyển thành 'tỵ' (tỵ ẩm = uống bằng mũi), thật ra cũng là âm môi-môi [B], giống
y như [M]. Các nhà ngôn ngữ học phân biệt thêm: [M] là âm môi-môi mũi, [B] âm
môi-môi tỏ. Âm [M] và [B] ưa lẫn lộn với nhau (khi chưa biết a-b-c), và được
chọn một trong hai, khi chuyển từ Bách Việt sang quốc ngữ. Thí dụ: [mai]-4 = bán
& [mai]-3 = mua. Hmong: [muas]= mua & [muag] = bán. Tiếng Việt dùng 'bán' từ
tiếng Mân: [buan]-7, cũng có âm giống như [buan]-2 = 'mua'. Tương tự: Âm
quanthoại của 'Bí Mật' chính là 'mi - mi': [mi]4+[mi]4= 祕 密.. [Mi] đầu biến sang
[Bí] do ảnh hưởng tiếng Hẹ: [bi] hoặc Quảng Đông [bei].
Tương tự với biến chuyển quốc ngữ [B] <=> [M] c̣n được thể hiện qua tiếng Chăm
dùng chỉ Mồm / Miệng: [caBoy] & [caBong], và Môi => [tong-caBoy].
Tiếng Đa đảo cho thấy âm M cũng đă được dùng khá rộng trên bộ Mặt người xưa.
Để ư trong tiếng Chăm, ngoài chữ [Mưta] => Mặt, ta c̣n có [Bo?] = Mặt. Chữ
[Bo?] có thanh-điệu gần giống thinh dấu nặng, chính là [Bộ]. Cho thấy thêm một
biến chuyển [B] <=> [M] gây ra bởi kư âm A-B-C. Bộ = Mặt. Đó là lư do tại sao
tiếng Việt ưa dùng 'bộ' và 'mặt' đi đôi với nhau: 'bộ mặt', mỗi từ mang gốc tộc
khác nhau, theo đúng nguyên lư 'tiếng nói hợp chủng' chúng tôi ghi ra phía trên.
Tiếng Môn-Khmer hoàn toàn tương đồng với tiếng Việt trên tất cả các âm 'M'.
Giống như tiếng Hoa cho các từ có nghĩa tương đương, hay gần giống. Trong khi
tiếng Chàm giữ được số từ 'M' khá nhiều nếu liên kết biến chuyển [B] <=> [M].
Dựa trên những cặp giống nhau trong tiếng Việt và Nôm (gốc Hoa): mồm/môi.
Mặt/Mắt, Mày/Mi... chúng tôi xin tạm đưa ra lư giải sau cho hiện tượng M. Thuở
cổ thời, tiền nhân khá nghèo về từ vựng. Bởi xă hội chưa có nhu cầu phân biệt
'mắt' và 'mặt', v.v. Tiền nhân cứ dùng 1 từ chỉ chung cho toàn thể 'bộ mặt':
Mặt. Phân biệt 'mắt mũi mồm miệng môi má' là những phân biệt về sau. Mượn âm
chính của 'Mặt' ở thời buổi ban đầu.
Trong bài tới, chúng ta sẽ tiếp tục khảo sát thêm hai điểm quan trọng khác: (i)
giao tác giữa nhóm Việt bản địa tối cổ Môn-Khmer với những tộc Việt khác, và
(ii) nguyên lư 'kinh nghiệm về chính sự'. Để đi đến một số lư giải mới cho đẳng
thức hết sức quan trọng đă đi vào quên lăng trong suốt thiên niên kỷ qua:
Người Việt bản địa tối cổ= Thái-cổ + Môn-Khmer + Đa-Đảo
Từ đó chúng ta có thể đi đến một lư giải mới về 'biên giới' xứ Việt cổ, cũng như
lư do tan ră của 'vương quốc' Chăm-pa.
Tháng 5, 2006
NN
GHI CHÚ
[1] Lê Văn Siêu (1983) Việt Nam Văn Minh Sử Cương. Nxb Sống Mới (Hoa Kỳ)
[2] http://www.geocities.com/Tokyo/8908/firemount/austroframes.html
http://alibataatpandesal.com/masaka.html
http://www.answers.com/main/ntquery;jsessionid=gwtw7j9vmcom?method=4&dsid=2222&dekey=Plain+of+Jars&curtab=2222_1&sbid=lc01b&linktext=Plain%20of%20Jars
[3] http://www.newsgd.com/culture/culturenews/200603140021.htm
http://www.chinaculture.org/gb/en_aboutchina/2003-09/24/content_23984.htm
[4] Xin xem bài 18(2). Đặc biệt để ư cả Tôn Dật Tiên lẫn Kim Dung mỗi khi liệt
kê các sắc tộc chính ở Trung Hoa, họ không bao giờ liệt kê Yue (Việt) tộc bởi họ
là người Hoa, họ đă biết rất rơ Việt tộc đă mang tên mới Hán tộc cách đây khoảng
2000 năm. Hỏi bất cứ một người Hoa nào ở vùng Hoa Nam: Thế 'Yue zu' (Việt tộc)
bây giờ ra sao? Chắc chắn sẽ nghe câu trả lời 'Yue tộc' chính là 'Hán tộc'. Để ư
'Hán tộc' chứ không phải Hoa tộc. Bởi Hoa và Việt đă nhất thống với nhau dưới
một tên chung khác: HÁN.
[5] Phan Đăng Nhật (chủ biên) (2003). Luật tục Chăm & Luật tục Raglai. Nxb Văn
Hoá Dân Tộc
[6] http://www.csuchico.edu/~gt18/Papers/cham_mar1.pdf
[7] B́nh Nguyên Lộc (1971) Nguồn gốc Mă Lai của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu
(tái bản tại Hoa Kỳ).
[8] GERARD MOUSSAY, Nại Thành Bô, Thiên Sanh Cảnh, Lưu Ngọc Hiến, Đàng Năng
Phương, Lưu Quang Sanh, Lâm Gia Tịnh, Trương Văn Tốn (1971). Tự Điển
Chàm-Việt-Pháp. Trung tâm Văn-hóa Chàm - Phan-Rang.
[9] Charles Hamblin (1984) Languages of Asia & The Pacific. Angus & Robertson.
[10] Linga & Yoni = bộ phận sinh dục của phái nam & nữ
[11] Nguyễn Cung Thông (1997) Tiếng Việt Tuyệt Vời - Âm M trong tiếng Việt. Tác
giả xuất bản (Melbourne, Australia). ISBN 0646 35730 1.
[12] Chúng tôi sẽ dùng vài cách gọi xưa, bởi đă khám phá tính cách vội vă trong
việc 'hiện đại hoá' tiếng Việt. Thí dụ: thay hết 'chữ' bằng 'từ' => lấn cấn
trong cách dùng 'chữ' trong Kiều: 'Chữ tài liền với chữ tai một vần' (Phải giữ
'chữ' bởi ai cùng quen với 'chữ' trong câu thơ này. Không thể thay bằng 'từ').
Tương tự: 'Chiêm' hay 'Chàm' khó đổi thành 'Chăm' nếu không đổi luôn luá Chiêm
thành lúa ... Chăm. Lúa Chiêm là thứ lúa do người Chiêm gây giống. Lúa Chiêm
trồng độ 3 tháng là có thóc ăn rồi. Nếu giữ 'lúa Chiêm' mà đổi tên xứ
Chiêm-Thành, thành ra 'Chăm', chừng 100 năm nữa không ai c̣n biết lúa Chiêm là
thứ lúa nào.
[13] Nguyễn Đức Hiệp (2006) Một thoáng Đông Nam-Bộ - Địa chí và Lịch Sử. Báo
mạng "Khoahoc.net", ngày 4 tháng 5, 2006
[14] http://www.csuchico.edu/~gt18/Papers/cham_mar1.pdf
http://www.eumon.org/his_inscriptions.php mon---
http://www.csuchico.edu/~gt18/Papers/Crawfurd's%20Champa%20Malay.pdf
http://www.seacrc.org/media/pdfiles/ChamBook.pdf
http://www.newsgd.com/culture/culturenews/200603140021.htm
[15] Po Dharma (1988) Status of the latest research on the date of absorption of
Champa by Vietnam. IN: Proceedings of the Seminar on Champa (Copenhagen),
http://www.seacrc.org/media/pdfiles/ChamBook.pdf
[16] Tâm-Quách Langlet (1988) Geographic setting of ancient Champa. IN:
Proceedings of the Seminar on Champa (Copenhagen).
http://www.seacrc.org/media/pdfiles/ChamBook.pdf
[17] Bernard Gay (1988) New perspectives on the ethnic composition of Champa.
IN: Proceedings of the Seminar on Champa (Copenhagen):
http://www.seacrc.org/media/pdfiles/ChamBook.pdf
[18] Pierre Bernard Lafont (1988) Research on Champa and its evolution. IN:
Proceedings of the Seminar on Champa, (Copenhagen):
http://www.seacrc.org/media/pdfiles/ChamBook.pdf
[19] Chúng tôi xin phép ghi lại Wijaya thay v́ Vijaya theo kiểu người Pháp, bởi
từ điển Chăm [8] cho thấy tiếng Chăm không có âm [V] mà chỉ có âm [W]. Tương tự,
tiểu 'quốc' Vvyar (phía dưới) đáng nhẽ viết là: Wyar. Người Tàu biết đến Chiêm
Thành qua các thứ tên: Lâm Ấp, Hồ Tôn, Tượng Lâm, Hoàn Vương. Năm xứ Chiêm Thành
(Champa) dựa vào các tên Ấn Độ, bao gồm:
- Indrapura: khu vực Quảng Nam ngày nay. Phía Bắc Indrapura khá mơ hồ, bởi mất
về nước Đại Việt khá sớm (1069), thời Chế Củ - Lư Thánh Tôn, bao gồm: Địa Lư, Ma
Linh, Bố Chính, tức khu Quảng B́nh, Quảng Trị (từ đèo Ngang đến cửa Nhật Lệ).
Rất có thể 3 vùng đất này khi xưa là 3 tiểu quốc: Vvyar, Jriy và Traik [20].
Tiếp theo vào khoảng năm 1309, Chế Mân dâng Châu Ô và Châu Rí (Nam Quảng Trị +
Thừa Thiên) làm quà cưới Huyền Trân Công Chúa. Có thể Châu Ô / Rí ngày trước là
tiểu quốc Ulik [20].
- Amaravati: Khu vực Quảng Ngăi
- Wijaya: Khu vực Trà Bàn, B́nh Định.
- Kauthara: Khánh Hoà
- Panduranga: Phan Rang - Phan Rí.
[20] Trần Kỳ Phương (2005) Vương quốc (?) thuộc miền Bắc vương quốc cổ Chiêm
Thành (Champa) tại miền Trung Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 11 và 15. Trong: 'Nhịp
Sống': http://www.ivce.org/html/nhipsong/2005/baiviet26.asp
[21] Các trang mạng khá chi tiết về Chăm-pa và mẫu hệ:
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0%E1%BB%A3ng_L%C3%A2m
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0n_V%C6%B0%C6%A1ng_Qu%E1%BB%91c
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_%C3%8A_%C4%90%C3%AA
http://www.ninhthuanpt.com.vn/SacCham/Index.htm
http://www.chamyouth.com/vijaya/ban-ve-van-de-ten-ho-cham.html
[22] Hy vọng sẽ trở lại đề tài ngôn ngữ vay mượn vào một dịp khác. Đại khái,
chúng tôi cho rằng vay mượn ngôn ngữ xảy ra mănh liệt nhất khi hai nền văn hoá
chênh lệch nhau, dù muốn dù không, phải đối tác với nhau. Nó cũng cho ta biết hệ
thống chính sự, trước và sau thời gian đối tác. Bởi vay mượn ngôn ngữ thường tập
trung ở các từ thiên về tư tưởng hoặc ư niệm. Vay mượn những từ về sự vật, cũng
có thể ào ạt hơn, khi sự giao tác thiên về khoa học, kỹ thuật.
[23] Lê Hương (1969) Người Việt gốc Miên. Tác giả xuất bản. Quyển sách này cho
biết trong tiếng Khmer có đến 17 chữ khác nhau để mô tả động tác: mang / khuân /
vác, v.v. của động từ 'porter' tiếng Pháp, và 'to carry' tiếng Anh. Trong đó:
kann => cầm (V), po / bey => bồng / bế (em bé).
[24] Wilhelm G. Solheim II (1975?) New light on a forgotten past. AT:
http://mevietnam.org/NguonGoc/fv-newlight.html
[25] - http://home.att.net/~lvhayes/Langling/Glossary/Glospag1/glosf027.htm
- Hồ Lê (2002) Từ Nam Á trong tiếng Việt. TRONG: Tiếng Việt trong nhà trường phổ
thông và các ngôn ngữ dân tộc. Nxb Khoa Học Xă Hội 2002. tt 84-134
[26] Charles Hamblin (1984) Languages of Asia & The Pacific. Angus & Robertson.
- http://www.learningmedia.co.nz/nz/online/ngata/
[27] http://ww2.saturn.stpaul.k12.mn.us/Hmong/dictionary/enghmong/newmenu.html
[28] Nguyễn Văn Khang (chủ biên), Bùi Chỉ - Hoàng Văn Hành (2002) Từ Điển Mường
Việt. Nxb Văn Hoá Dân Tộc. Hànội.
[29] Cơ số đếm là số cao nhất của hệ thống đếm. Thí dụ: hệ thống đếm số 10, có
cơ số 10. Các số trên 10, sẽ đếm như 10+1 (11), 10+2 (12), ..., 10+9 (19), 10+10
(2 lần 10 = 20). Tiếp theo: 20+1 (21), dẫn cho đến 90+9 (99), rồi 90+10 = 10 x
10 = 100. Tương tự, trong hệ thống đếm với cơ số 5 của người Khmer xưa, số 1=
muay => số 5= bram. Đến số 6, người Khmer bắt đầu đếm lại: 5+1, tức họ đếm:
bram-muay = 5+1 = 6. Với lối đếm người Mường dựa trên cơ số 9: số 27 thuộc cơ
10, họ sẽ đọc như 3 lần cơ số 9. Số 27 họ đọc như 39 (3 lần cơ số 9) = 3 x 9 =
27.
[30] Những bộ tộc thuộc chủng Môn-Khmer gồm có: Bahnar, Brau, Bru-Vân-Kiều,
Chơ-Ro, Co, Cơ-Ho, Cơ-Tu, Gié-Triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khmu, Mạ, Mảng, Mnong,
Ơ-Đu, Rơ-măm, Tà-Ôi, Xinh-Mun, Xơ-Đăng, Xtiêng. Thuộc nhóm Nam-Đảo, chúng tôi
xin đề nghị gộp luôn vào khối Môn-Khmer: Chàm (Chăm), Chu-Ru, Ê-Đê, Jarai,
Raglai.
[31] Theo 'Đại Việt Sử Kư Toàn Thư' của Ngô Sĩ Liên [32], ông Lư Phật Tử gốc
người 'Lái' ở Giao Châu. "Lái' là ǵ? Chúng tôi xin tŕnh bày như sau: 'Lái'
chính là tên tộc người 'Hlai' bị lột mất chữ 'H' ở đầu bởi tiếng Hán. Tộc 'Hlai'
chính là tộc Lê hay Li, viết như họ Lê của 'Lê Lợi' 黎,, Tộc người Môn-Khmer bản
địa tại Hải Nam, và Trung + Nam bộ của xứ Việt cổ. Xem:
http://en.wikipedia.org/wiki/Li_Chinese
[32] Ngô Sĩ Liên (1479) Đại Việt Sử Kư Toàn Thư. (Cao Huy Giu & Đào Duy Anh dịch
và hiệu đính). Nxb Văn Hoá - Thông Tin. (2004).
[33]
http://www.chineselanguage.org/cgi-bin/query.php?table=hakka&mode=english&sound=no&beijing=pinyin&canton=jyutpin&hakka=default&fields=pinyin,english&lang=en&show=frequent
[34] Charles Higham (1996) The Bronze Age of Southeast Asia. Cambridge
University Press.