12 con Giáp, năm Tuất và tháng Jiêng - tháng Chạp
Nguyên Nguyên
Văn hoá xoay quanh '12 Con Giáp' được thể hiện tại hầu hết các quốc gia vùng
Đông Á và Đông Nam Á, trừ một vài nước mang nặng ảnh hưởng Hồi giáo như
In-đô-nê-xia, và Mă Lai Á, dù rằng cộng đồng người Hoa tại những nước này vẫn
c̣n hâm mộ việc ăn Tết và xem tuổi coi ngày theo 'Tử Vi 12 Con Giáp', gọi theo
tiếng Hán là 'Sinh Tiêu' (生肖 [shengxiao]).
Một bảng đối chiếu tên gọi 12 con Giáp (Tư Sửu Dần Măo Th́n Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu
Tuất Hợi) giữa các phương ngữ tại Trung Hoa như tiếng Quảng Đông, Hẹ, Phúc Kiến,
Chiết Giang, Hải Nam, và Việt ngữ, đă được tŕnh bày đầy đủ trong bài thứ 15 của
loạt bài 'Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương' được đăng tải trên nhiều báo chí,
và các trang báo mạng như khoahoc.net, dunglac.net, v.v. Bảng đối chiếu đó cho
thấy tên gọi 12 con Giáp (người Tàu thường gọi 12 Địa-Chi) có âm vị rất giống
các phương ngữ Hoa Nam.
Đặc biệt:
- Quảng Đông: Chau= Trâu. Yan= Dần. Maau= Măo. San= Th́n. Ji= Tỵ. Ng= Ngọ. Mei=
Mùi. San= Thân. Yau= Dậu. Seut= Tuất. Hoi= Hợi. Tổng công 11 trong 12.
- Hẹ: Zii= Tư. Zeu= Sửu. Jin= Dzần. Mau= Măo. Shin= Th́n. Tsih= Tỵ. Ng= Ngọ.
Mú= Mùi. Shin= Thân. Ju= Dzậu. Sut= Tuất. Hoi= Hợi. 12/12.
- Hải-Nam: Zi= Tư. Siu= Sửu. Yan= Dần. Mao= Măo. NGO= Ngọ. Muat= Mùi.
Jiu= Dzậu. TUAT= Tuat. Hai= Hợi. 9/12.
Sự thật, 12 địa-chi có lẽ xuất phát đầu tiên từ 12 tháng tính theo âm-lịch, tức
theo chuyển động mặt trăng. Người xưa, sau vài ngàn năm sinh sống trên trái đất
bắt đầu phát hiện cứ thấy 12 lần trăng tṛn th́ thấy khí hậu trở lại giống như
cái 'chu kỳ' cũ: Ấm áp (xuân), nắng chói (hạ), mát mẻ / lá rơi (thu), và băng
giá/lạnh lẽo (đông). Từ đó sinh ra 12 tháng. Thường gọi chung với ‘trăng’ bằng một
từ duy nhất. Tức ‘tháng’ mang nghĩa nguyên thủy ‘một chu kỳ Trăng’. Thí dụ: Tiếng
‘Hán’ kiểu người Hẹ, gọi cả ‘trăng’ lẫn ‘tháng’ bằng [ngiet], quốc ngữ đă kư âm
thành: [nguyệt], có lẽ sau khi phối hợp âm Hẹ [ngiet] [1], với lối phát âm Mân [goeh]
và Hải-Nam, [guet].
Rất nhiều ngôn ngữ do đó dùng chung một từ cho 'trăng' và 'tháng'. Tiếng Persia
/ Ba-Tư (Iran) gọi cả 'trăng' lẫn 'tháng' bằng [măh]. Tiếng Tàu quan thoại có [yue],
Hán-Việt đọc [nguyệt] theo kiểu Hẹ, mang nghĩa 'tháng' và 'trăng'. Tiếng Khmer
cũng vậy: [khai] mang hai nghĩa 'tháng' và 'trăng'. Tiếng Myanmar: [lá] => tháng
& trăng. Người dân tộc A-Kha gọi ‘tháng’ bằng [bala] và ‘trăng’ [pala]. Người P’u-Noi,
tháng= trăng= [ula]. Tiếng Mă-Lai (và Chăm-pa): [bulan] hay [bilan] => tháng &
trăng. [Bulan] sinh ra [blang] => [blăng] => tiến đến [trăng] do tác động của kí
âm quốc ngữ. Nhưng [bulan] không tiến thẳng đến [tháng] trong Việt ngữ. 'Tháng'
lại có vẻ phối hợp [blăng] hay [tlăng] với một từ tiếng Thái chỉ 'mặt trăng' và
'tháng': [deuang]. [Duang] tiếng Thái mang hai nghĩa: {tháng} và {trăng}. Đối với
{trăng} rất thường tiếng Thái kèm theo [Jan]: [Duang Jan]. [Jan] sinh ra [giăng]
tại một số khu vực Bắc Bộ. [Duang] sinh ra 'tháng' cũng như một lô từ chỉ 'tháng'
của các nhóm người dân tộc. Người Pu-Noi gọi 'tháng Giêng' bằng [Dưon Chieng].
Người Mường: 'khảng Chiêng' (tháng Giêng {1}), 'khảng Môch' (tháng 11), 'khảng
khảu' (tháng 6), 'khảng chap' (tháng chạp). Người Tày-Nùng [6] yùng [Bươn chiêng]
cho 'tháng Giêng', [Bươn nhỉ]: tháng hai, [Bươn êt]: tháng một (mười một), [Bươn
lap]: tháng Chạp.
Theo thiển ư, ‘tháng’ có vẻ khác với ‘trăng’ do ở kí âm quốc ngữ cố tổng hợp 2
âm [duang] và [tlăng]:
Tháng = {duang} + {tlăng}.
HOẶC đă dựa vào lối phát âm [thang] của người Mân cho từ 朣, mang nghĩa 'trăng mọc'.
Đặc biệt, người Tàu ngày xưa khi dùng tiếng Hán phiên âm tiếng Nôm của người nước
Nam, họ dùng [đăng] để chỉ 'tháng' [2], và [lôi] chỉ [trời] tức [blời] [2]. [Đăng]
đích thị phiên âm theo kiểu nói người (Âu) Việt thuộc chủng Thái-cổ: [Duang].
Theo Jeanne Cuisinier [7], dẫn từ các công tŕnh của Coedès và Maspéro, người Mường
cũng có chu ḱ 12 năm tương ứng với 12 con Giáp. Nhưng có vẻ như rằng 10
thiên-can (Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quư) đến với các mường bản rất
trễ. Rất giống với thư tịch tối cổ của Tàu, ít thấy miêu tả đến chu kỳ 60 năm,
phối hợp 10 thiêncan với 12 địachi. Theo [5] cho đến đời Đông Hán bên Tàu (tương
đương với Hai Bà Trưng xứ Việt cổ), vẫn chưa thấy xuất hiện 10 thiên-can. Tuy vậy
người Mường vẫn có thói quen chia 1 tháng ra làm 3 tuần, mỗi tuần 10 ngày. Đặc
biệt một ngày có 12 giờ, mỗi giờ xưa như vậy tương ứng với 2 giờ ngày nay. Giờ
Tư đầu tiên bắt đầu từ 11giờ đêm và chấm dứt lúc 1 giờ sáng. Tiếp đó giờ Sửu:
1giờ-3giờ sáng, giờ Dần: 3-5 giờ sáng, giờ Măo: 5-7 giờ sáng, Th́n: 7-9 giờ sáng.
Tỵ: 9-11 giờ sáng, v.v. Tuy nhiên, theo Cuisinier, 12 con Giáp du nhập sang Thái
Lan và các mường bản, từ người Khmer.
Người Yi [4] [8], với dân số ngày nay khoảng 8 triệu tập trung tại Tứ Xuyên, Quí
Châu và đông nhất tại Vân Nam - giáp giới với Việt Nam, ngày trước dùng lịch 10
tháng. Mỗi tháng 36 ngày, tức một năm 360 ngày. Năm (5) ngày c̣n lại của năm họ
dùng để ăn...Tết, không tính vào năm [5]. Có lẽ họ tính lịch theo chuyển vận hằng
ngày của mặt Trời. Một năm gồm {360 + 5} lần vận chuyển 'mọc' và 'lặn' của mặt
trời. Năm 10 tháng của người Yi, được chia thành 5 quí. Một (1) quí = 2 tháng, tức
72 ngày. Mỗi tháng có 3 tiết khí [4]. Mỗi tiết khí có 12 ngày. Tức vào thuở cổ
thời, có hai con số đáng nhớ trong khung đối chiếu ngày, tháng, và năm. Đó là số
12 và số 10. Ngoài ra, c̣n có thêm một con số đáng nhớ nữa. Con số 5. Số 5 tiêu
biểu cho thuyết 'âm dương' Ngũ Hành, rất thông thường liên hệ mật thiết đến 12 địa
chi và 10 thiên-can (Giáp - Ất - Bính - Đinh - Mậu - Kỷ - Canh - Tân - Nhâm -
Quư).
Điểm đáng ghi nhớ: Vân Nam, tức Đại Lư năm xưa, là một ngă 3 rất quan trọng nối
liền Trung quốc, Việt Nam với văn minh phương Tây vào lúc cổ thời. Nhiều sách vở
mới của Trung Quốc [5] [8] cho biết Vân Nam chính là cái nôi văn hoá Đông Nam Á,
do ở vị trí ngă ba đường, tiếp xúc với ba nền văn minh Đông, Tây và Nam, cũng
như phong cảnh thần tiên u linh, khí hậu mát mẻ. So với nhiều 'xứ' ở khu vực
Bách Việt - Hoa Nam, nền độc lập 'địa phương' của khu Vân Nam (Điền Việt / Nam
Chiếu / Đại Lư), cũng được giữ khá vững, cho đến khi nhà Nguyên của tộc Mông Cổ
quyết định dứt điểm xứ này vào giữa thế kỷ 13.
Bây giờ chúng ta sẽ t́m cách lư giải tại sao nhiều tộc người tại Đông Dương và
khu vực Lưỡng Quảng - Vân Nam lại có thói quen gọi 'tháng 1' bằng 'tháng Giêng'
hay những âm vận tương tự.
Tuy nhiên trước hết xin ghi lại một số nhận xét thu thập được từ sách vở và
internet.
1. Hệ thống tử vi Đông và Tây tính theo lịch 12 tháng hoặc chu kỳ 12 năm (địa
chi) xoay quanh với 10 thiên-can là một hệ thống hết sức tinh vi. Những tộc người
nào phát triển chúng đến nơi đến chốn bắt buộc, theo thiển ư, phải hội đủ các điều
kiện sau đây:
(a) Phải có sẵn một hệ thống số đếm và chữ viết. Bởi quá phức tạp để phát triển
bằng lối truyền miệng trong dân gian; (b) Phải kinh qua hằng trăm hằng ngàn năm
để thu thập dữ kiện, tạo nên các định luật tổng hợp; (c) Phải thu thập được rất
nhiều chứng liệu lịch sử qua giao tác giữa người với người, dân tộc này với dân
tộc kia. Cá tính và cuộc đời của rất nhiều cá nhân khác nhau; (d) Có sự đóng góp
trong cốt lơi của các nhà khoa học hay những ‘tu sĩ’ cỡ bự, dù dưới dạng đồng
bóng, phù thủy hay tiên tri thời tiết, chứ lê dân b́nh thường không đủ sức để
phân tích / tổng hợp hằng ngàn hằng trăm ngàn dữ kiện khác nhau để hệ thống hoá
phương cách 'sinh tiêu' tức xem tử vi bằng 12 con Giáp (Tây và Đông) đối chiếu với
ngày năm sinh và cuốn lịch; và quantrọng nhất: (e) vào cổ thời các dân tộc này
phải rất quenthuộc với 'con Ngựa' thuộc địachi thứ 7 của 12 'con Giáp'. Xin xem
chi tiết phía sau.
2. Trên góc độ thuần lư, chúng ta có thể thấy những tộc người đă thật sự góp
công phát triển hệ thống ‘tử vi 12 con Giáp’ đến nơi đến chốn, rất khó hiện thực
được nếu địa bàn cư trú của họ nằm ở những nơi xảy ra chiến tranh triền miên,
hay họ đă sinh sống bằng lối 'ju mụk' nay đây mai đó. Chúng tôi thật sự cố ư
dùng động từ ‘phát triển’ thôi, chứ không dám dùng ‘phát minh’, bởi thật ra hệ
thống tử vi biểu tượng bằng sự vật hay sinh vật, đă hiện diện ngay từ thời xa
xưa, từ Trung đông sang Âu châu, kéo đến Á châu. Theo nhà nghiên cứu người Hoa,
Thường Tuấn [5], cổ Ai Cập, cổ Babylon, Ấn Độ, Hy Lạp và Trung Quốc đă có tập tục
ghi lịch bằng 12 loài vật từ rất sớm. Tại cổ Ai Cập và Hy Lạp, 12 con Giáp gồm
có: trâu đực, dê, sư tử, lừa, cua, rắn, chó, chuột (hoặc mèo), cá sấu, hồng hạc,
vượn, chim ưng. Cổ Ấn Độ có 12 con giáp rất giống với Trung quốc: chuột, trâu,
sư tử, thỏ, rồng, rắn độc, ngựa, dê, khỉ Ma-các, gà, chó, heo. Để ư, con sư tử
trở thành 'hổ' (cọp) khi đến Trung Hoa, hoặc ngược lại, bởi bên Tàu, sư tử rất
hiếm. Mười-hai con giáp của xứ Babylon ở thời cổ đại là mèo, chó, rắn, bọ-hung,
lừa, sư-tử, dê đực, trâu đực, chim cắt, khỉ, hồng hạc, và cá sấu. Trong 12 con
giáp Nhật Bản hiện tại, con lợn biến thành lợn rừng giống đực, đồng thời lịch của
họ cũng đă biến đổi từ âm-lịch sang dương-lịch. Trong khi, tại nước Hung-ga-ri,
do ở ảnh hưởng chiếm đóng ngày xưa (thế kỷ 4-5) của dân 'Hun' (lănh tụ Hốt Tất
Liệt - Attila), 12 con giáp xứ này giống y như của Trung Hoa. 12 con giáp kiểu
Tàu cũng được áp dụng trong khối dân Turkestan, và dân xứ Bul-ga-ri ở Đông Âu.
3. Chúng ta cũng có thể thấy trong khi tử vi Tây Phương quây quần với 12 giáp: Bảo
B́nh, Song Ngư, Miên Dương, Kim Ngưu, Song Nam, Bắc Giải, Hải Sư, Xử Nữ, Thiên Xứng,
Hổ Cáp, Nhân Mă, và Nam Dương, tương ứng với khoảng thời gian trung b́nh 30 ngày,
bắt đầu từ 'khoảng' ngày 20 mỗi tháng tây, tử vi Đông phương vượt luôn qua chu
ḱ 12 tháng, lên đến 12 năm và 10 phân loại (thiêncan), phối hợp với nhau thành
1 chu kỳ chung là 60 năm, tương ứng trên dưới một đời người. Sở dĩ, Đông phương
tiến mạnh đến một chu ḱ con giáp 12 năm, chứ không phải 12 tháng có lẽ bắt nguồn
ở chỗ các nhà thiên văn Đông phương, đă dựa 'khoa tử vi' theo sát với vận chuyển
của các tinh tú, đặc biệt 'nhị thập bát tú', tức 28 cḥm sao trên trời [3]. Những
nhà thiênvăn thuộc các tộc người 'phát triển' tử vi 12 'năm-giáp', đă quan sát
chuyển động các hành tinh và biết được rằng Tuế tinh, tức sao Mộc, đi được một
ṿng quanh bầu trời trong khoảng thời gian đúng 12 năm [5]. Tuy nhiên, có vẻ
chưa có luận cứ 'chắc nịch' tương tự về chu ḱ thiên-can gồm 10 thứ: Giáp Ất
Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quư, ngoài việc cho rằng số 10 cho 10 năm, có lẽ
xuất xứ từ lịch cổ 10 tháng (mỗi tháng 36 ngày) của người Yi ở xứ Điền Việt (Nam
Chiếu/Đại Lư) xa xưa, hoặc, theo thiển ư, thuyết Âm-Dương Ngũ Hành, bao gồm 5
hành, nhân (x) với nhị nguyên (2) 'Âm' và 'Dương' (Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ (5) nhân
với Âm Dương (2) cho ra 10).
4. Xin được phép nhấn mạnh, tất cả các thư tịch cổ cũng như sách vở hiện đại của
người Hoa, không bao giờ ghi chép tên của 12 địa-chi là tên của 12 con cầm-thú
tương ứng. Thí dụ: {Mùi} chỉ là địa chi thứ 8, chứ không phải {Mùi} mang nghĩa
{con Dê}. Trong chữ Hán ghi ở bảng phía trên, ta để ư, một lần nữa, phát âm Việt
giống phát âm Hẹ nhất: [Mui]. {Mùi} viết theo Hán tự: 未 có nghĩa 'mùi vị' được
thể hiện khá đầy đủ trong các phương ngữ Hoa Nam. [Mùi] tương ứng với quanthoại
[Wei] chính là [vị] theo tiếng Việt. Kiểm chứng với bất cứ người Hoa nào chúng
ta sẽ thấy, tên 12 địachi không mang nghĩa 12 con thú hoặc cầm đó. Cả hai quyển
từ điển về tiếng Hán và Nôm, của Húnh Tịnh Của và Đào Duy Anh, đều cho kết quả
tương tự. Không bao giờ có sự việc: Tư = con Chuột, Sửu = con Trâu, Dần = con Hổ,
v.v. Tuy nhiên, ở phía dưới, chúng tôi sẽ mạo muội thử t́m ṭi, và kiểm chứng, với
tính cách sơ lược và tiêu biểu, mối dây liên hệ trong ngôn ngữ giữa tên địachi với
tên con cầm-thú tươngứng.
Xem lại phát âm 12 địa-chi và 10 thiêncan, theo các phương ngữ Hoa Nam và tiếng
của người dân tộc, có thể đi đến các nhận xét sau.
1) Tất cả các tên địachi và thiêncan ở tiếng Việt đều có âm tương ứng ngay trong
các phương ngữ Hoa Nam. Giống nhất là các thứ tiếng Hẹ, Quảng Đông và Hải Nam.
Trong khi Hẹ cho ra 2 từ đặc sệt Việtnam: [Mui] (mùi) và [Hoi] (hợi), Hải Nam
cho biết [Ngo] và [Tuat] phát âm y hệt như vậy trong tiếng Việt: [Ngọ] & [Tuất].
2) Có một điểm trùng hợp: {Măo}, địa chi thứ 4, có phát âm rất giống từ tiếng Việt
dùng để chỉ con Mèo. Tiếng Hán Việt thật ra là [miêu] hay [mao], tương ứng với
quanthoại [miau] hay [mao], quảngđông [maau] và Hẹ, hai thứ [miau = miêu] và [meu
= meo]: Nam xực như hổ nữ thực như miêu. Thật ra địachi {Măo} viết Hán tự 卯 rất
khác với Miêu = Mèo: 貓. Địachi {Măo} mang tên một ngôi sao của 'nhị thập bát tú'
ở trên trời. Địachi {Măo} thông thường tương ứng với 'con Thỏ'. Đến xứ Việt đổi
thành con Mèo. Rất giống hiện tượng 'sư tử' ở Ấn-Độ, nhưng 'hổ' (cọp) tại Đông Á
và Đông-Nam-Á
3) Theo [5], các loại cầm thú liên kết với 12 địachi trong tử vi Đôngphương mang
xuất xứ từ những vật tổ totem của thời bộ lạc xa xưa. Nhiều bộ lạc khác nhau,
tuy cùng một tộc người, vẫn có thể có vật tổ khác nhau. Đó là một giải thích cho
việc biến đổi giữa con Thỏ với con Mèo, trong địachi thứ 4 {Măo}. Đặc biệt con Hổ
rất phổ biến là một totem chung cho rất nhiều tộc người miền rừng núi Á Châu: Sở
Hùng, Xuyên (Thục), Điền Việt, v.v. Con cừu cũng khá phổ biến, và totem của siêu
tộc Khương. Để ư từ Khương [qiang] 羌 mang cách viết y hệt hàm ư 'người chăn cừu
(hay dê): [Qiang] 羌 giống như [yang] (dương) mang nghĩa 'cừu': 羊 viết chung với
[ren] (nhân), tức 'người': 人. Cũng có bộ lạc như Thái Hạo thờ 'con Rồng', Thiếu
Hạo thờ 'con Chim' (tiến đến 'con Gà', tức địachi 'Dậu). Các thần thánh cổ thời
như Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông đều có thân rắn: Rắn cũng là một totem khá phổ biến.
Con Hổ với con Gà từ ngàn xưa nổi tiếng trong việc 'trấn tà, trị yêu ma'. Khai
quật tại Hemudu thuộc tỉnh Chiết Giang (tức xứ Việt của Câu Tiễn hồi xưa) t́m thấy
nhiều đồ sứ có h́nh con Heo, chứng tỏ con Heo có thể là một totem của nhiều bộ tộc
ở đó. Ngành khảo cổ cũng cho biết trong số những động vật hoá đá t́m thấy trong
nhiều hang núi, con Nai và con Thỏ xuất hiện nhiều nhất, với 'tuổi đời' cũng đến
50000 năm. Nhiều vụ khai quật gần đây tại Tứ Xuyên (địa bàn xưa của rất nhiều tộc
'man-di', như Khương, Thái cổ, ...) [14] t́m thấy một di vật con rắn đầu chó uốn
ḿnh quanh thân cây dài 4 thước tây. Trong khi mô-típ h́nh 3 con Thỏ đuổi nhau
thành ṿng tṛn, với tai chạm vào đầu, t́m được ở miền Tây nước Tàu (khu Tứ
Xuyên) cũng rất giống với 3 con thỏ rượt đuổi tương tự tại các thánh đường thời
Trung Cổ ở Anh Quốc. 'Chó' cũng là một loại totem khá phổ biến, ở các sắc dân:
Mông Cổ, Yi (một nhánh của tộc Khương), Choang (Quảng Tây), Tạng, Miêu, Bố-Y,
v.v. Ngoài ra, người ta cũng để ư đến liên hệ giữa cầm thú với địa chi qua tiến
tŕnh thuần thục của thú vật, làm bạn hoặc giúp việc với loài người, hay nuôi
trong nhà: Chó, heo, ḅ, trâu, gà, dê, cừu, ngựa, v.v. trước đây khoảng 5000 năm.
4) Tên tháng dùng tên địa chi có lẽ xuất hiện trước tiên, có thể do ở chỗ tên
tháng được đặt nên trước khi số đếm được phổ biến trong dân gian. Cũng như vậy,
mới liên kết được với thiên văn, bói toán và không lệ thuộc hoàn toàn vào số đếm.
Tây phương cũng trải qua kinh nghiệm tương tự. Tên tháng thường nối kết với tên
của thánh thần, vua chúa La Mă. Thí dụ: Tháng Ba March, tên gọi thần chiến tranh
Mars - ngày xửa ngày xưa chính là tháng số 1. Tháng Bảy July, sau tên hoàng đế
Julius Caesar. Tháng tám August đặt theo tên hoàng đế LaMă Augustus. Tháng Chín
September đăt theo số 7: septem, bởi ngày trước chính ra tháng thứ 7. Tháng Mười
October, thật ra trước là tháng 8. Số 8: octo. Xin nhắc lại: bát độ trong âm nhạc:
octave. Tử vi đôngphương khi xưa cũng quen gọi tháng theo sát với địachi: tháng
tư, tháng sửu, tháng dần, tháng măo, tháng th́n, v.v.
5) Để ư phương ngữ Ngô Việt (Chiết Giang & Giang Tô) gần như ít xử dụng 12 con
Giáp nhất, bởi từ điển cho thấy nhiều khoảng chừa trống nhất. Có thể họ là tộc
người ít liên hệ đến việc ‘phát triển’ hay thích thú xử dụng 12 con giáp. Hoặc rất
có thể người Ngô-Việt gọi thẳng những địachi này bằng tên con Giáp. T́nh trạng
này cũng thể hiện qua những thứ tiếng khác như: Mường, Thái, Khmer, P'unoi.
Chúng ta lại có thể giải thích điểm gút mắt này bằng lư thuyết ở đây, cho rằng
tiếng Việt, nhất là Hán Việt, thật sự do tiền nhân các tộc người thuộc khối Bách
Việt như: Hẹ, Quảng Đông, Mân, Hải-Nam, Ngô-Việt, mang đến xứ Việt-cổ, ngay từ
thời xa xưa. Tộc người Việt Nam chính là hỗn hợp của các tộc người Bách Việt di
tản xuống phối hợp với các dân bản địa chủ lực: Môn-Khmer và Thái cổ. Nhiều từ
chỉ 'con Giáp' tiếng Thái, Khmer cũng rất giống tiếng Việt: chuat => Chuột; Thoh
=> Thỏ. Đặc biệt để ư đến: Trâu và Khỉ. 'Trâu' trong tiếng Việt do tôn-sư quốc-ngữ
kí âm ra. Có thể dựa theo tiếng Chăm-pa [trêy]. Nhiều giả thuyết ngày trước dựa
trên các thư tịch hồi quốc-ngữ mới ra đời cho rằng: ‘Trâu’ xuất thân từ [Tlu] biến
thể từ [Klu] hay [Blu], y như: Chúa Blời => Chúa Tlời => Chúa Trời. Để ư tiếng
‘nước’ nào cũng vậy, thường có ít nhất hai từ để chỉ cùng một sự vật. Do ở đóng
góp của các bộ tộc khác nhau, sống gần hoặc chung tại một địa bàn. Tiếng Chăm-pa
(tộc chủ lực: Môn-Khmer) có ít lắm hai từ chỉ con Trâu, do đóng góp vài bộ tộc
khác nhau: [trêy] và [kabau] (hay [kapau]). [Trây] rất gần với [Trâu]. [Bờlu] có
âm sau [lu] rất giống tiếng Khmer và Thái: [Chalu]. [Kabau] lại có vẻ (chỉ ‘có vẻ’
thôi) hợp thức giống kiểu tiếng Tàu: [Thủy Ngưu] tức [Shui Niu], 'Ngưu' mang
nghĩa {Ḅ}, 'Thủy' = nước. Tiếng Champa cũng vậy: 'Bau'= ḅ (giống tiếng P'unoi=
pau); [Ka] một tiếp vĩ ngữ hoặc tiếp đầu ngữ của vài từ Chăm chỉ ‘nước’ như: [nưKar]
hay [Karam]. Trâu, tức Ḅ sống dưới nước: Shui Niu / Ka-bau. [Shui niu] tức ‘ḅ
nước’ hay ‘trâu’ có thể dẫn ta đến một giả thiết kiểu bỏ túi: ‘Phải chăng con
giáp thứ 2: {Sửu}, đại diện bằng ‘con Trâu’, chính là lối phát âm biến từ nhị âm
{Shui Niu} sang đơn âm [Shui] đọc nhanh thành [Sửu]’? Một giả thiết khác, mới nhất
và có lẽ hữu lí nhất, dựa trên cách phát âm của tiếng Hẹ, so với quan-thoại. Hễ
quanthoại đọc [Zou]1, tức ‘Trâu’ (Trâu: một nước gần Lỗ ở Sơn-Đông. Trâu chính
quê hương Mạnh Tử), th́ Hẹ phát âm như [zeu], tức [Sửu]. C̣n 'Khỉ' tiếng Khmer đọc
[vok], Thái [wo?k] và Mường [vok] th́ sao? Ta nhớ tiếng Việt thỉnh thoảng ưa
dùng từ kép: 'khỉ dộc', và 'dộc' có bà con rất gần với [vok] tiếng Khmer hiện tại.
Truy cứu tiếng Môn-Khmer [15], ta thấy có đến cả chục từ dùng để chỉ 'khỉ'.
Nhưng một số lớn mang âm cuối [wak]. Thí dụ: 'Khỉ' = [rawak]. Có nơi: [riwak]
hay [reyak]. [Riwak] hay [wak] sinh ra [vok] Mường và Khmer, hoặc [wo?k] tiếng
Thái hiện nay, và [reYak] => [dộc] trong tiếng Việt. Cũng có bộ tộc dùng [uKi]
hay [duk]. [uKi] và [duk] có thể mang cùng gốc với ‘Khỉ đột’.
6) Thử quan sát con Dê hay con Cừu. Cừu hoặc Dê chính là một yếu điểm của tiếng
Tàu, bởi Hoa ngữ dùng chung một từ 'Yang' (Dương) 羊 để chỉ cả hai, Cừu và Dê.
Tuy thỉnh thoảng người Hoa phân biệt 山羊 'sơn dương' [shan yang] (sơn= núi) để chỉ
con Dê, và 绵羊 'miên dương' [mian yang] (miên= tơ sợi= mien Hakka) chỉ con Cừu, rất
thường họ ưa dùng chỉ một từ 羊 [yang] để chỉ cả Dê lẫn Cừu. Vào bất cứ một tiệm
ăn Tàu nào, nếu nh́n thực đơn tiếng Anh thấy món 'Lamb Hotpot' hay 'Lamb
steam-boat' (tiếng Tàu: [shuang yang rou]), ta phải hiểu đó chính là món 'lẩu Dê'
chứ không phải 'lẩu cừu non (lamb)' ǵ hết. So sánh 'cừu' và 'dê' ở phương diện
môi trường sinh sống, cũng giống như 'Thỏ' với 'Mèo'. Cừu và Thỏ thường thích hợp
với khí hậu miền ôn đới hơn là Dê và Mèo. Đó là lí-jo chính tử vi con Giáp tại
Việt Nam lại dùng 'Dê' và 'Mèo' thay cho 'Cừu' và 'Thỏ', tuần tự, của tử vi
Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật, Khmer, và Thái-Lan. Một điểm khác, có liên hệ về
ngôn ngữ giữa 'Mùi' với 'Dê' hoặc 'Cừu' hay chăng? Cũng có thể: Có. Hai dẫn chứng
tuy không đủ mạnh, nhưng vẫn là dẫn chứng cho những công việc tiếp nối về sau.
Thứ nhất, theo bảng trên, địachi 'Mùi' ở tiếng Thái là [mamaê] và Khmer [momê].
Nhưng trong tiếng Ấn Độ, con Cừu được gọi [Memnaa] và tiếng Samoa, thuộc Đa-đảo,
là [Mamoe]. Cả hai có phát âm bắt đầu với [M] như [Mùi] nhưng mang nghĩa 'con Cừu'.
Thứ hai, tiếng kêu 'be he' của cả cừu lẫn dê trong tiếng Tàu thường bắt đầu bằng
âm [M]: Hakka (Hẹ): [moi] hay [mai]; Quảng đông: [me] hay [mai], và quanthoại, 咩
[mie] hoặc [mai]. Tất cả đều giống âm [Mùi].
7) Con Heo tức con Lợn th́ sao? Rất nhiều người Việt thường nhầm lẫn 'Bắc-Nam'
giữa 'ô' và 'dù', 'hoa' và 'bông', 'heo' và 'lợn', v.v. Loạt bài 'Thử đọc lại
truyền thuyết Hùng Vương' đă giải toả rất nhiều ngộ nhận như vậy. Xin nhắc lại,
[ô] chỉ có nghĩa [mưa] trong phương ngữ Phúckiến (Mân), giống y như [jù] hay [yù]
đọc theo kiểu Hakka, hay 'HánViệt' là [vũ] hay [yũ], mang nghĩa 'mưa'. Thật ra
tiếng Tàu jùng để chỉ 'cây Dù' phải dùng nguyên hai chữ [Yu San] (quanthoại) hoặc
[Oh San] (phúckiến). [San] mới thật sự mang nghĩa 'vật che' viết tượng h́nh giống
như cái Ô hay 'cây Dù': 伞. Quốcngữ học thói đơn-âm rất nồng nhiệt nên tự ư gạt bỏ
từ then chốt [san] để giữ lại [ô] và [dù], thuần mang nghĩa 'cơn mưa' mà thôi. 'Hoa'
và 'Bông' đơn giản hơn một chút. 'Hoa' xuất xứ từ 花 [hua], đọc theo quảngđông hoặc
Hẹ là [waa] hay [faa]. Ngô-Việt: [ho] giống một hai địaphương tại ViệtNam và
Phúckiến, y hệt đánh vần: [hoa] [17]. Nhưng [bông] lại cùng gốc với tiếng
Môn-Khmer, Chămpa, và Mă-Lai: [bunga], và, rất đặc biệt, cũng cùng gốc với một từ
Hán rất cổ ít khi dùng: 菶 [beng] hay [peng]. Hakka và Quảngđông đọc [bung] y hệt
như tiếng Môn-Khmer bị đơn-âm-hóa, và tiếng Hán-Hàn có phát âm y hệt: [pong].
Heo và Lợn cũng y như vậy. Người Nam-bộ rất ít khi dùng 'Lợn' để chỉ 'Heo' nhưng
họ vẫn giữ một thói quen xa xưa gọi một thứ bánh ngọt rất phổ biến: 'bánh Da Lợn'.
'Lợn' thật ra mang cùng gốc với tiếng người bản địa: Môn Khmer. Có chừng cả chục
từ khác nhau của các bộ lạc xưa, nhưng có nhiều từ mang phát âm cùng gốc với 'Lợn':
[ja-lo] (Semelai), [kaLek] (Danaw), [Le?] (Palaung) (? tắc âm thanhmôn, giống âm
giữa [uh] và [ah] khi nói: 'uh-ah'), và [Lik] (proto-Waic). Nhưng 'Hợi' lại mang
chút ít gốc Hoa-Nam. Tiếng Hoa chính cống là 'Trư' tức 猪 [zhu]. Tiếng Hẹ chỉ 'Heo'
là 豨 [Hi] mà người Quảngđông đọc [Hei] rất giống [Hợi] và [Heo]. Để ư tiếng Hẹ
và Quảng đọc địachi 'Hợi' y hệt như tiếng Việt: [Hoi]. Thêm một trườnghợp cho thấy
tên địachi giống tên ... conthú? [18].
8) Con Ngựa có lẽ là con thú định đoạt nơi 12 con Giáp được phát triển đến độ
hoàn chỉnh. Bởi 2 lí do. Thứ nhất, nó là một trong những con thú chủ lực và ṇng
cốt của 12 con Giáp. Con Trâu có thể thành Ḅ. Thỏ thành Mèo. Heo ra Voi [19], Lợn
ra Lợn Rừng, Cừu thành Dê, Sư Tử ra Hổ, v.v. Nhưng Ngựa nói chung vẫn giữ nguyên
con Ngựa, con chiến Mă. Thứ hai – con Ngựa xuất phát từ vùng b́nh nguyên phía
Tây nước Tàu, địa bàn xưa của người Hung Nô / Mông Cổ, cách đây trên dưới 5000
năm. Ở miền Hoa Nam kéo xuống Đông Nam Á, con Ngựa đến khá muộn. Ở những vùng
này, con ‘Woi’ phổ biến hơn [20]. ‘Ngựa hơn Voi’ trong chiến tranh, cũng là lư
do chúng tôi đă viện dẫn cho thế giặc mạnh như vũ băo của Hoa tộc khi họ kéo
quân tiến chiếm Hoa Nam vào thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên. Chúng tôi đă liu ư
phải tốn đến 800 năm mới nhất thống được Hoa Bắc trong khi chiến trận thôn tính
Hoa Nam chỉ kéo dài trên dưới 8 năm. Chung quy cũng tại con Ngựa. Theo nguyên lí
của ngôn ngữ, nơi nào sự vật xuất hiện đầu tiên, từ vựng nguyên thủy của địa
phương đó có khuynh hướng được giữ rất vững, dù 'chuyển ngữ' sang những ngôn ngữ
khác. Thí dụ: cà-phê, xuất hiện đầu tiên ở Trung Đông, nơi đó người ta gọi [kaffa]
để ghi nhớ nơi chốn t́m ra càphê đầu tiên. Con Ngựa cũng vậy. Rất nhiều tiếng tả
Ngựa bằng âm đầu [M] như [momi] (Khmer), [mamia] (Thái) và nhất là [Mă] (Hoa), tất
cả đều mang gốc với tiếng Mông-Cổ: [Morb]. Chỉ có tiếng Việt gọi con Mă bằng Ngựa
và dính với địa-chi Ngọ, y như tiếng Hải Nam [Ngo] jùng cho địa chi thứ 7 [21].
Xem thật kỹ các thứ tiếng khác, ta sẽ thấy Ngựa (hay Ngọ) có thể mang cùng gốc với
các thứ tiếng sau đây:
* Hindi (Ấn Độ): [ghoraa]; Bengali (Bengladesh): [ghora];
* Sinhalese (Tích Lan): [aswaya] và Hmong-Mien (Miêu-Dao): [nees]
Cũng rất có thể người Yi, người Bạch, người Thoăn, người Điền, người Ai-Lao ở
Vân Nam, ít ra vào thuở cổ thời, có phát âm cho con Mă giống với kiểu Ấn-Việt: [Gho]
=> Ngọ => Ngựa. Vân Nam tức nước Điền xa xưa, rồi Nam Chiếu rồi Đại Lư của ngón
Nhất Dương Chỉ, chính là nơi có nhiều truyền thuyết về một con ngựa đen tuyền thật
tốt mang tên Nguyên Mă [8]. Địa điểm xuất phát của những con Thiên Lư mă này là
hai ngọn núi gần nhau mang cả hai tên [Mă] và [Ngọ]: 'Mă Đầu' {Ma Tou} và 'Ngọ
Trà Sơn' {Wu Cha Shan}. Tức 'Ngọ' mang nghĩa, hoặc phát âm nguyên thủy của 'Ngựa'
thật sự có xuất xứ từ tiếng nói của người Điền Việt, hay Nam Chiếu ở thời xa xưa.
Truyền tích về loại ngựa đặc biệt này ở xứ Vân Nam (nơi có vẻ hội đủ rất nhiều
tiêu chí chúng tôi đề ra ở phía trên) đă được Kim Dung xử dụng trong truyện 'Lộc
Đỉnh Kư' ở đoạn đua ngựa do Vi Tiểu Bảo và thái-tử kiêm thái-giám Ngô Ứng Hùng
(con trai tướng Ngô Tam Quế) tổ chức.
Bây giờ xin thử t́m giải đáp cho câu hỏi: Tại sao người Việt có thói quen gọi
tháng Mười Một, tháng Mười Hai, và tháng Một, tuần tự, bằng tháng Một, tháng Chạp
và Giêng?
Trước hết, tháng Một. Hồi c̣n tuổi ấu thơ, chúng tôi nhớ có nghe đâu đó gọi
tháng 11 bằng tháng Một. Xưa nay, vẫn tưởng đó chỉ là một lối gọi tắt: 'Mười Một'
=> 'Một'. Nhưng không phải. Xem lại phần tóm tắt phía trên, ta thấy ngài Mường gọi
tháng 11 bằng [khảng Môch]. 'Môch' chính là 'Một'. Người Tày-Nùng cũng vậy [6].
Họ gọi tháng 11 bằng [Bươn Êt]. [Bươn] = tháng, và [Êt] = 1. Như vậy, người Việt
xưa chắc chắn không thể nào nhầm lẫn hoặc gọi tắt 11 thành 1 được. Họ có ít lắm
hai 'đồng minh' thuộc tộc Thái cổ, là Mường và Tày - Nùng [22], cùng gọi tháng
Mười Một là tháng Một.
Xem lại 12 con Giáp chúng ta sẽ thấy các tên gọi tháng được phân bố như sau:
Tháng Tư= tháng 11; tháng Sửu= tháng 12; tháng Dần= tháng 1; tháng Măo= tháng 2;
tháng Th́n= tháng 3; tháng Tỵ= tháng 4; tháng Ngọ= tháng 5; tháng Mùi= tháng 6;
tháng Thân= tháng 7; tháng Dậu= tháng 8; tháng Tuất= tháng 9; tháng Hợi= tháng
10.
Như vậy tháng 11 người xưa ưa gọi tháng Tư. Tư là địa chi đầu tiên hay địa chi số
1 của 12 địa chi. Từ đó tháng Tư, tháng số 1 của 12 địa chi, được gọi 'tháng 1'.
Tháng Mười Một gọi theo địachi là tháng Tư, tức tháng Một.
Tháng Chạp? Chính là tháng thứ 2, theo kiểu 12 con giáp. C̣n gọi tháng Sửu. 'Sửu'
phát âm ra sao trong các phương ngữ bên Tàu? Tiếng Hẹ: [chiu] hay [zeu], Quảngđông:
[chau], Quanthoại: [chou], Ngô-Việt: [tshơw], Mân: [thiu], Hải-Nam: [siu]. Phát
âm Hải Nam và Hẹ giống 'Sửu' nhất, và Quảngđông & Quanthoại giống [chạp] nhất.
Xin để ư tóm tắt phía trên, cho biết người Tày Nùng gọi tháng Chạp bằng [Bươn
Lap]. Tại sao [chap] lại biến thái với [lap]. Tra cứu vài quyển từ điển tiếng
Tàu trên internet (thí dụ [16]) chúng tôi phát hiện ra 3 từ đặc sệt Hoa, thuần
túy dùng để chỉ tháng 11, tháng 12, và tháng Giêng. Phía dưới sẽ bàn đến tháng
Giêng. Tháng 11 người Tàu xưa gọi [Dong Yue] 冬月 (Đông Nguyệt), dần dà về sau
tách Đông 冬 ra dùng để chỉ mùa Đông. Tháng 12 họ gọi [La Yue] 腊 月 'tháng Lạp' giống
người Tày-Nùng thuộc tộc Thái-cổ. 'Lạp' 腊 nghĩa là ǵ? 'Lạp' tiếng Hẹ đọc y hệt
[lap]. Quảng: [laap]. Quanthoại: [la]. Ngô: [la?]. Mân: [lah]. Mang nghĩa: (i) lễ
tế vật săn bắn vào cuối năm; (ii) khoảng thời gian cuối năm âm lịch; (iii) làm
muối, hoặc phơi khô thức ăn (Thí dụ: lạp xưởng 臘 腸 laap cheung, là thứ 'xúc xích'
phơi khô của người Quảng Đông); (iv) giỗ cúng tháng Chạp. (Để ư từ điển của
Húnh Tịnh Của [23] không có ghi 'tháng Lạp' mà chỉ ghi 'tháng Chạp' với ư nghĩa
của 'Lạp'. Luận cứ chúng tôi nhấn mạnh cội nguồn âm [CH] trong [Chạp], và đầu
tiên phô trương ra chữ 'Lạp').
Như vậy ta thấy rơ tháng 12 xưa được gọi tháng Sửu, tức [chou] quanthoại và [chau]
quảngđông. Đồng thời, có những bộ tộc khác bên Tàu gọi tháng 12 bằng 'tháng' Lạp,
dựa trên một tập tục khác không dính dáng đến 12 địachi. Người Tày-Nùng vẫn giữ
lối gọi 'Lạp' này. Nhưng người Việt ở nước Nam, bao gồm nhiều tộc người khác
nhau, ra sức tổng hợp hai âm [Chau] (tức 'Sửu') và [Lạp] với nhau thành ra [Chạp]:
{Chạp} = {Chau} + {Lạp}
Tháng Giêng? Lư giải về 'tháng Giêng' cho thấy chỉ có lư thuyết về Hùng Vương của
chúng tôi mới có thể đưa đến một giải thích (đầu tiên) ăn khớp với tháng Một -
tháng Chạp. Người Hoa vào lúc cổ thời ưa yùng [Zou yue] 陬 月 để chỉ tháng Giêng.
[Zou] phát âm theo Hẹ chính là [zeu], và quảngđông: [zau]. Phát âm Việt của
[Zou] chính là [tchâu] (Bắc) hay [trâu], và của [zeu] chính là [sửu]. Thế nhưng
đối với hệ thống tử vi 12 địa-chi, tháng Giêng chính là tháng Dần. Tóm lại, theo
kiểu xưa: tháng 1 âm lịch gọi 'tháng Sửu' (Zeu), tức tháng 'Trâu' (Zou). Theo kiểu
mới 12 con Giáp bắt đầu từ tháng Tư nhằm vào 11, tháng Giêng chính là tháng 'Dần'.
'DẦN' phát âm ra sao ở các phương ngữ Bách Việt? Quanthoại đọc [Yin], với âm [Y]
ở đầu giống Quảng Đông: [Yan] {Nam bộ: [Dần] đọc giống [Yần]}. Ngô-Việt: [Iing];
Mân: [In] và Hải-Nàm: [Yan], giống Quảng-đông.
Người Hẹ tức Hakka mang nhiều phát âm giống người phía Bắc đọc [Dzần] như [JIN].
[JIN] chính là phát âm 'Dần' (Jần hay Dzần) trong tiếng Hẹ. Tháng 'Jần' chính là
tháng Giêng. [JIN] => 'Jiêng' => 'Giêng'. Âm [JIN] (chỉ tháng Dần) tiến đến âm [Giêng]
với trợ júp của quốc-ngữ:
(Tháng) GIÊNG = tháng DẦN / bắt nguồn từ phát âm 'Dần' như {JIN} người Hẹ.
Năm Tuất
Địa-chi 'Tuất' tương đương với 'Con Chó'. Tiếng Hán gốc có nhiều từ dùng chỉ 'Chó',
nhưng thường dzùng nhất:
- [khuyển] 狗 tức [khian] phát âm theo Hẹ và Mân (Phúc Kiến), [khyen] theo 'Zhongyuan'.
- [cẩu] 犬 tức [kiu] Hẹ, [kau] Quảng và Mân. [kiu] cho ra [kuli] từ gọi 'chó' của
nhiều dân
đa đảo.
'CHÓ' trong những thứ tiếng khác:
- Mông Cổ: [nokhoy], chứa âm [khoy], có thể cùng gốc với [khian] Hẹ, tức [khuyển].
- Ấn Độ: [kuttăa] => tách ra [kut] và [taa]. [Kut] có thể cùng gốc với [kuli]
theo dân đa
đảo và Maori ở Tân Tây Lan, và [cẩu]-Việt/Quảng hay [kiu] Hẹ. [Taa] có thể biến
thái
thành 'Tuất' theo kiểu Hải Nam và Việt Nam.
- Myanmar: [kwei] có thể cùng gốc với [cầy] hay [cẩu] tiếng Việt.
- Khmer: [chkae] & [tso] => [chó] và [kầy].
Tức 'tiếng Nôm' CON CHÓ rất khó có xuất xứ từ bên Tàu. Tiếng Thái thường dùng
[maa] để chỉ CHÓ. Tiếng Việt chính là [má], thường gọi chung: [chó má]. Tiếng
Thái cũng có một từ khác chỉ CHÓ: [tso]. Y hệt tiếng Khmer và Mường: [tso]. Âm vị
[Tso] rất dễ tiến đến [Chó] qua kư âm hoàn toàn 'nhân tạo' bởi các tôn-sư quốc
ngữ. Để ư thêm, tiếng cổ thuộc tộc bản địa Môn-Khmer ở xứ Việt thời tiền sử,
dùng chỉ 'CHÓ' bao gồm: [suq], [asu], [tso-o], [so?], [tsoh], [chuq], v.v. 'Tuất'
do đó rất có khả năng là một lối kí âm y hệt như lối gọi của người Hải-Nam [tuat],
với gốc là những âm-vị của các từ thuộc tiếng Môn-Khmer dùng để chỉ CHÓ. Đặc biệt:
[tso-o] + [so?] + [chuq] + [suq]. {Dấu ? ở [so?] tiêu biểu cho 'tắc âm màn họng'
phát ra gần giống với âm cuối [k], nhưng thể hiện bằng âm nối tiếp giữa [uh] và
[oh] khi đọc nhanh [uh-oh]}.
TUẤT = kư âm tổng hợp [tso-o]+[so?]+[chuq]+[suq] mang nghĩa 'CHÓ'.
Xin nhắc lại, có rất nhiều giả thuyết cho rằng tử vi 12 con Giáp có xuất xứ từ
khu vực Vân Nam, với hai khối tộc người chủ lực: Thái-cổ và Khương (Qiang) tộc.
Siêu tộc Khương, tiền thân của nhóm Môn-Khmer, và tộc Thái-cổ chính là 2 tộc người
bản địa tối cổ tại xứ Việt (Nam). Người Hải Nam cũng thường nh́n nhận họ là hậu
duệ của hai tộc: Miêu và Lê (tức một nhánh Thái-cổ). Như vậy không có ǵ lạ, khi
tại Hải Nam và Việt Nam, người ta dùng 'Tuất' để chỉ địa-chi thứ 11 biểu tượng bằng
con Chó. [Tuất] thật ra cũng mang nghĩa 'con Chó' theo với các lối phát âm thời
xa xưa của những khu vực đó.
Con Chó từng là vật tổ 'Totem' của nhiều dân tộc vào thuở cổ thời. Đứng đầu là
nhiều bộtộc Mông Cổ. Rồi đến các dân như Choang (bà con gần với người Tày-Nùng ở
Việt Nam), Miêu, Di, Tạng, Phổ Mễ, Bố Y, Duy Ngô Nhĩ, v.v. [5]. Theo nhiều truyền
tích thần thoại [5], chính con chó đă mang hạt giống ngũ cốc cho loài người. Tục
ngữ Trung Quốc có câu: "Con không chê mẹ xấu, chó không chê chủ nghèo".
CẢM TẠ: Xin thành thật cám ơn anh Nguyễn Cung Thông (Melbourne), đă gợi ư
'thử xem lại 12 con giáp', cùng những trao đổi email, tài liệu riêng về đề tài
khá quan-trọng này.
Ghi Chú
[1] Phát âm 'chuyện' => 'chiễn' trong tiếng Mường. Để ư âm vận tiếng Mường khá
giống phát âm một số vùng Nam Bộ, trên rất nhiều âm, trong đó có 'uyê', như
'truyền thuyết', đọc như [triền thiết]. Thí dụ: 'chuyện' người Mường phát âm như
'chiễn', 'duyên' Mường đọc như 'diên'. Rất giống biến thái giữa quanthoại và quảngđông:
âm [chuan] thường tương ứng với 'chuyền', 'chuyển', 'chuyện' - nhưng biến thái với
Hakka rất thường [chon] mang chỉ một mẫu âm [o], quảngđông [chyun] như đảo ngược
với tiếng Việt. Biến thái từ [chuan] có vẻ giống Mân nhất bằng âm [chhoan],
nhưng đôi khi Mân cũng chuyển thành một mẫu âm, [chheng] hay [chhun]. Một trong
những dẫn chứng khá gay cấn chính là 'Việt' trong 'Việt Nam'. Quảngđông đọc 'Yuet'
gần giống với 'yuyệt', và quanthoại [yue], cũng một thứ nhị- âm có [u] ở đầu. Một
âm nữa của 'việt' chính là 'vượt'. Hakka đọc [zat] hay [jet]. Nhưng Mân đọc [oat]
hay [wat], vẫn mang âm [u] trước. Như vậy một kư âm khác có thể lối đọc tiền
nhân chính là [vuat] hay [vuợt] với âm [u]. Nhưng các tôn sư quốc ngữ không sáng
tác nhị âm [uơ] và đành phải dùng [iê] => [việt]. Như vậy âm [iê] kiểu Mường /
Nam bộ thay cho [uyê]: [chiện] < [chuyện] / [Việt] < [Vuyệt] hay [vuật] lại một
điểm cần để ư. Tương tự: [giả thiết] mặc dù mang nghĩa hẹp hơn [giả thuyết]
nhưng cũng cho thấy tương cận giữa [thuyết] > [thiết].
[2] Lê Quư Đôn (1995 – bản dịch) Vân đài Loại Ngữ. Tập II. Bản dịch: Tạ Quang
Phát. Nxb Văn Hoá Thông Tin.
[3] 28 cḥm sao bao gồm 7 cḥm sao ở mỗi một góc, thuộc 4 góc Đông Tây Nam Bắc.
[4] Người Yi có lẽ thuộc nhóm Môn-Khmer. Ngôn ngữ họ thuộc nhóm Tạng-Miến, và có
chữ viết cổ lâu đời khắc trên những mảnh đá hoặc trong động đá. Tộc gốc của họ
theo sách vở Tàu chính là siêu tộc Để (hay Địch) + Khương (Di Qiang). Cũng có thể,
theo thiển ư, họ thuộc tộc Thái-cổ. Tiền thân của họ chính là nhóm người tạo dựng
nên xứ Nam Chiếu, tức Đại Lư của ‘Nhất Dương Chỉ’ Đại sư Đoàn Nam Đế trong truyện
của Kim Yung.
[5] Thường Tuấn (2005) Văn Hoá về 12 Con Giáp. (Hàn Ngọc Lan biên tập). Nxb Tổng
Hợp Tp HCM.
[6] Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo - Hoàng Chí (1974) Từ điển Tày-Nùng-Việt. Nxb
KhoaHọc XăHội (Hànội)
[7] Jeanne Cuisinier (1946) Les Mường - Géographie humaine et Sociologie.
Institut d'Ethnologie. Paris
[8] Chiêm Toàn Hữu - Lư Tinh Ích (hiệu đính) (2004) Văn hoá Nam Chiếu Đại Lư. Bản
dịch: Nguyễn Thị Thanh Huệ, Nguyễn Mai Lan, Nguyễn Hương Giang, Phan Minh Thanh.
Nxb Văn Hoá Thông Tin.
[9] http://www.chineselanguage.org/cgi-bin/query.php?table=hakka&mode=english&sound=no&beijing=pinyin&canton=jyutpin&hakka=default&fields=pinyin,english&lang=en&show=frequent
[10] Henri Roux (1954) Quelques Minorités Ethniques du Nord-Indochine.
France-Asie. Janvier-Février 92-93. Tome X.
[11] Vơ Mai Phương (Chu Thái Sơn chủ biên) (2005) Người Dao. Nxb Trẻ
[12] Trần Trọng Kim ( 1971) Việt Nam Sử Lược. Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục
xuất bản. Đại Nam tái xuất bản tại Hoa Kỳ.
[13] http://eprints.anu.edu.au/archive/00000512/00/thai_time.html
[14] Benjamin Robertson (2005) Ancient ruins rewriting China history. IN:
http://english.aljazeera.net/NR/exeres/6D639A4C-D735-4CD2-A215-A593EC27D5D9.htm
[15] http://home.att.net/~lvhayes/Langling/Glossary/glosspg1.htm
[16] www.njstar.com / www.zhongwen.com / www.chineselanguage.org/cgi-bin/cedict.php?dbase=ce&query=81D8&first=0&encoding=utf8-tw
[17] Những người học quanthoại sẽ dễ thắc mắc tại sao chử ‘Hoà’ tiếng Việt lại
tương đương với lối đọc [He] 和 quanthoại. ‘Hoà’ chính là kí âm của tiếng Mân [hoa]
hay Hẹ [wa]. [Wa] giống phát âm Nam Bộ hơn. Chúng ta thấy các tôn-sư quốcngữ đă
hết sức lúng túng ở việc kí âm rất nhiều từ sau khi quyết định không dùng chữ
cái [W]. Điển h́nh họ đặt ra [qua] để chỉ ‘Tôi’ theo lối nói Phúckiến, Mường, Nhật
và Nam bộ. Thật ra [qua] chỉ {tôi} phải kí âm [wa] mới đúng, bởi người nam bộ
không hề phát âm như [kwa] mà chỉ có [wa]: ‘Ngày mai nếu em ở nhà, wa sẽ (k)wa
thăm em’. Thí jụ khác: con Quạ (chim) người Hẹ phát âm như [vua], [v] thay [w],
vẫn nhẹ hơn [kwạ]. Hiện tượng dùng [kw] thay [w], và [v] thay cho [w] và [by] nhẽ
ra phải được nghiên kíu từ lâu. Đối với [v] thay cho [w], mọi việc sẽ đâu ra đó
nếu chỉ thay cho [w] y như phát âm người Hẹ và người Sơn Đông hiện nay. Nhưng
sai lầm ở chỗ [v] ôm đồm thay luôn cho [by]: ông byua => ông Vua. Hiện tượng [v]
biến thái với [w] có thể dễ dàng t́m thấy trong ngôn ngữ Âu Châu: Rượu vang (chát):
Vino (Ư) => Vin (Pháp) => Wine (Anh). [V] <=> [W].
[18] Xem bảng đối chiếu phía trên, sẽ thấy c̣n một từ nữa để chỉ con Heo: [cúi]
theo kiểu Mường [kwi] / [kul], hoặc Khmer [kau], hay Thái [kun]. Hiện ‘cúi’ vẫn
c̣n dùng tại một số khu vực bắc Trung bộ. Thêm lần nữa: mỗi bộ tộc có lối dùng từ
riêng để chỉ cùng một sự vật. Tiến bộ của văn minh qua phương tiện truyền thông
như báo chí, truyền thanh, truyền h́nh, internet, v.v. đă dẫn đến việc chiết lược
bớt những từ đồng nghĩa, và chỉ dùng những từ quen thuộc nhất do người thành thị
xử dụng.
[19] Nguyễn Cung Thông (2005) Trao đổi i-meo về 12 con Giáp. (Tháng 8 - 2005)
[20] Thời hai bà Trưng, rồi bà Triệu, xứ Việt cổ vẫn dùng Voi. Hoa tộc đă dùng
ngựa trước đó ít lắm cũng 500 năm. Hoa tộc ưa chế giễu Bà Triệu (khởi nghĩa năm
284), ra trận dùng voi bằng cách miêu tả bà không mặc áo để lộ vú dài 3 thước. Sử
gia Ngô Sĩ Liên và rất nhiều vị khác đă vô t́nh không minh giải vấn đề này và
ghi lại y chang từ thưtịch cổ của Tàu. Thật ra vú dài 3 thước, theo thiển ư, được
dùng để tả cái ‘ṿi’ của con voi. ‘Thước’ đọc theo Hải Nam là [xiớk]
(Hán-Bách-Việt), HánViệt là [xích]. Hẹ: ch’ak, Quảng đông: [tsek], Ngô: [tsha?],
Mân: [chhek]. 1 thước = 0.3333 thước tây (m). Do đó 3 thước xưa gần bằng 1 mét
tây. Đúng với chiều dài b́nh quân của cái ṿi đi trước con voi.
[21] Người Hải Nam ngày nay là hậu duệ của hai sắc tộc cổ thời: Lê tộc và Miêu tộc,
cộng với nhiều đợt ji tản từ Hoa lục, đông nhất người Mân tức Phúc Kiến - Triều
Châu. Tộc Lê có bà con xưa với người Choang ở Quảng Tây, và Tày-Nùng, Mường ở ViệtNam,
thuộc chủng Thái cổ.
[22] Nên nhớ, trong tiếng Tày-Nùng hoàn toàn KHÔNG có dấu 'ngă' ~.
[23] Húnh Tịnh Paulus Của (1998) Đại Nam Quấc Âm Tự Vị - ấn bản 1895-1896. Nhà
xuất bản Trẻ