Thử Đọc Qua
“Chuyến Đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi”
của Petrus Trương Vĩnh Kư
Nguyên Nguyên
Măi cho đến năm 2009, người Việt chúng ta vẫn
chưa có thể đưa ra một đánh giá đúng đắn, hay ít ra một bằng chứng khách quan
cho biết về tầm quan trọng đóng góp của con người Petrus Trương Vĩnh Kư, rất khó
có thể chối căi là một người cha của quốc ngữ và tiếng Việt hiện đại nói chung.
Nếu nh́n qua danh sách các tác phẩm và bài viết của Trương Vĩnh Kư, tổng cộng
118 tác phẩm lớn nhỏ đủ loại, và đem so sánh nó với bất cứ “list of
publications” (thư mục trước tác) nào của các giáo sư đại học ở thế kỷ 21, từ
Harvard đến Oxford, Cambridge hay Sorbonne, từ Beida tới Todai, ta có thể thấy
danh sách tác phẩm và bài viết của họ Trương, vẫn có phần hơn, nếu để ư đến thời
đại họ Trương là thời giữa thế kỷ 19, và chữ quốc ngữ hăy c̣n nằm trong dạng
phôi thai. Nh́n kỹ hơn một chút, ta thấy thời đó cái mốt viết bài đăng báo hay
viết sách chuyên đề ngôn ngữ, hoặc phổ biến hay chia xẻ kiến thức với nhân dân,
vẫn chưa là một tiêu chuẩn để được thăng tiến trong nghề giáo sư đại học ở các
quốc gia tiên tiến Tây Phương, chứ đừng nói chi đến các nước Á Đông như
Inđô-nêxia, Thái Lan, Phi-líp-pin, Miến Điện, v.v. Hay ngay cả Nhật Bản và Trung
Hoa, nếu kể luôn cả những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp hay nghiên cứu hoặc diễn
giải về các tác phẩm Hán Nôm xưa.
Nếu Trương Vĩnh Kư sinh vào thế hệ sinh sung [baby boom], đại khái trong khoảng
1945-1960, và viết đơn xin việc tại bất cứ đại học lớn nào trên thế giới ở thập
kỷ đầu của thế kỷ 21 này, kèm theo thư mục trước tác của ông, chúng ta thấy ngay
và chắc chắn rằng, đơn xin việc của ông sẽ được hoan hỉ chấp nhận, nếu đại học
đó có một phân khoa hùng hậu về ngành Đông Phương Học. Và nếu đại học nào bị lâm
vào t́nh trạng tài chánh khó khăn do ở khủng hoảng kinh tế toàn cầu, rất có khả
năng người ta sẽ lập tức giới thiệu ông hay kiếm job dùm ông ở một đại học khác.
Nếu Trương Vĩnh Kư sinh trước 100 năm, tức vào khoảng năm 1737, không ai có thể
biết những ǵ có thể xảy ra, nhưng rất có khả năng ông sinh ra đời dưới một ngôi
sao xấu hơn, bởi vào thời đó bờ cơi nước Đại Việt chưa mở rộng đến tận phía Nam,
và vùng quê hương của họ Trương vẫn c̣n thuộc quản trị (lỏng lẻo) của vua quan
nước Chân Lạp. Cũng rất có thể tổ tiên của ông vẫn chưa xuôi về Nam định cư.
Nhưng cũng có vẻ khá chắc chắn rằng họ Trương sẽ không có cơ hội làm quen với
các thứ ngoại ngữ, và chưa chắc tránh được nạn thiếu học và ngay cả mù chữ.
Nếu ông sinh trước chỉ 50 năm, tức vào khoảng năm 1787, ông sẽ lớn lên dưới thời
vua Minh Mạng (1820-1841), rất có khả năng ông bị mất mạng rất sớm nếu ông v́
nghèo không có cơm ăn, đi theo đạo quốc cấm, lại đua đ̣i học tiếng Phú-Lang-Sa.
Thứ tiếng này là một trong những “ngoại ngữ” ở thế kỷ 21, con em ở khắp nơi trên
thế giới, chứ không riêng ǵ ở cái xứ Việt, đang hăm hở theo học ngày đêm, theo
sát với trào lưu kinh tế thị trường và toàn cầu hoá mậu dịch. Ông rất dễ đi về
nước Chúa rất sớm, bởi ông lỡ mang một giấc mơ hết sức quái dị là cố gắng phát
triển đến mức tối đa một hệ chữ viết dùng chữ cái tiếng Latinh, mà mấy ông Cố
đạo da trắng Âu Châu đă và đang bắt đầu khai triển để giảng đạo của Chúa Cứu Thế.
(Có thể để ư phần đa các trước tác của họ Trương hoàn toàn không mang chủ đề đạo
Công Giáo hoặc chủ thuyết chính trị Đông hay Tây).
Dù cho rằng những công việc họ Trương đă làm là có cổ xúy của người da trắng từ
xứ Tây Dương, nhưng nếu không có ư chí say mê, một hướng đi rơ rệt, với ước muốn
làm một cái ǵ thiết thực để trả nợ quê hương, xây dựng nền móng thật vững chắc
cho tiếng Việt trong thời đại mới, rất khó có thể thấy tiếng Việt, dưới dạng
quốc ngữ theo chữ cái a-b-c, có khả năng phát triển tột bực chỉ trong ṿng 40
năm, ban đầu tập trung chung quanh mảnh đất Sàig̣n-Gia Định, rồi sau đó lan tràn
khắp nơi, mà chỉ khoảng 1 thế kỷ trước vùng đất Sài G̣n-Gia Định vẫn chưa hoàn
toàn thuộc chủ quyền của nước Nam, và vẫn là một nơi khỉ ho c̣ gáy, cọp beo vẫn
thường ra mặt bát phố lúc về đêm. Đây là điểm có thể nói ḱ lạ và ngộ nghĩnh
nhất về sự lớn mạnh của tiếng Việt viết theo chữ cái mẫu tự Latinh. Chữ quốc ngữ
đă được phát triển và củng cố mănh liệt trong một môi trường hoàn toàn mới lạ mà
chỉ trong ṿng một trăm năm trước đó, người bản địa trong vùng hoàn toàn xem
tiếng Việt là một thứ tiếng xa lạ, do di dân từ nơi khác mang đến. Tức chữ quốc
ngữ đă trưởng thành như một đứa con hoang, không có ông bà hay chú bác hoặc bà
con thân thuộc ở kế bên. Một hệ thống chữ viết mang tầm vóc quốc gia được phát
triển độc lập với triều đ́nh (đă mất chủ quyền) và truyền thống học vấn từ ngàn
xưa.
Và cũng do ở điểm này, tiềm tàng trong tâm khảm của giới sĩ phu đàng ngoài, mà
người ta liên tiếp thấy những ngộ nhận này dẫn đến ngộ nhận kia, kéo dài không
ngừng hằng chục hằng trăm năm. Điển h́nh là bộ Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan,
trong đó nhà phê b́nh văn học mới vào nghề họ Vũ đă vô tư sắp ông Petrus Kư
ngang hàng với các nhà văn “hiện đại”. Cũng giống như sắp xếp Sir Isaac Newton
ngang hàng với một số các giáo sư Việt hay Anh đang giảng dạy khoa Vật Lư học
tại các trường trung hay đại học ở thế kỷ 21. Hay so sánh ông Charles Darwin với
một cô giáo trường làng ở Nhật Bản đang dạy về ngành sinh vật học với chuyên môn
về thuyết tiến hoá. Một sơ xuất khá buồn cười, nhưng hoàn toàn vô tư lự, rất ít
người để ư đến, và thật sự không đáng quan tâm. Cũng có thể nhận xét rằng nhận
định về một nhân vật như Trương Vĩnh Kư rất dễ bị g̣ bó bởi cái khung suy nghĩ
cổ điển, mang tính tạp nhạp với các tiêu chuẩn rời rạc đầy tính chủ quan của hệ
giá trị xă hội hết sức chật hẹp, nhưng không kém phức tạp, dựa trên cơ sở quyền
lợi và quyền bính của những thế kỷ trước. Cũng không thể không ngạc nhiên nếu để
ư hiện tượng Petrus Kư chính là hiện tượng một nhà chuyên nghiệp sinh trưởng ở
một vùng đất mới, trước khi ư niệm hay định nghĩa “nhà chuyên nghiệp” xuất hiện
ngay ở Tây Phương cả trăm năm. Hiện tượng này lại xảy ra ở vùng đất mà ơn mưa
móc của triều đ́nh hăy chưa có cơ hội được ban bố tới. Cũng rất có thể, nếu hiện
tượng này xảy ra tại bất cứ quốc gia nào khác ở Đông Nam Á vào thời đó, như nước
Nam Dương chẳng hạn, một nhân vật tương đương với Petrus Kư cũng rất khó được
chính quyền trung ương vinh danh. Người ta cũng có thể nghi ngờ về hiện tượng
Petrus Kư xảy ra ngay ở Trung Quốc. Vẫn có rất nhiều quan sát cho thấy một hiện
tượng tương tợ với trường hợp Petrus Kư cũng dễ bị bỏ quên, đặc biệt nếu để ư
chính Kim Dung đă bỏ th́ giờ viết lên nhân vật Vi Tiểu Bảo trong bộ Lộc Đỉnh Kư,
một “nhà chuyên nghiệp” gốc Hán đă hợp tác với quân Măn Thanh. Nhân vật Vi Tiểu
Bảo này của Kim Dung cũng không thể mang gốc sĩ phu theo Hán học đàng hoàng, mà
bắt buộc phải thất học, với học vị tiến sĩ chợ trời, và thuộc hàng giai cấp thái
giám. Cũng có thể xem Petrus Kư theo chiều hướng kiểu mô h́nh nhà bác học
Galileo, bị chấm dứt cuộc đời và sự nghiệp chỉ do ở việc mang lối suy nghĩ khác
biệt với Giáo Hội La Mă chỉ trước đó vài thế kỷ. Chung qui cũng ở chỗ ư niệm về
một nhà chuyên nghiệp hăy chưa h́nh thành, và việc học vấn đó hoàn toàn nằm
ngoài chương tŕnh giáo dục hay quan lộ do nhà nước ấn định, mà lại nương nhờ
vào một thứ đạo giáo đến từ phía bên ngoài, nhà nước đang cấm chỉ. Đây là một đề
tài khá phức tạp, chứ không đơn giản như thường nghĩ, có thể đ̣i hỏi vài ba cuốn
sách dày.
Nh́n qua những trước tác của Petrus Kư người ta rất khó tránh không để ư đến
quyển “hồi ức” ngắn viết bằng văn xuôi, rất có thể chính là quyển viết bằng
“bạch thoại” chữ quốc ngữ đầu tiên của người nước Nam. Đó là quyển “Chuyến Đi
Bắc Ḱ năm Ất Hợi” tường thuật lại chuyến đi ra ngoài Bắc trong khoảng thời gian
từ 14 tháng Giêng 1876 cho đến 20 tháng Tư 1876. Ngay ở cái tựa về “năm Ất Hợi”
ưa kèm theo năm 1876 trong dấu ngoặc (1876) cũng dễ gây ngộ nhận, rằng năm Ất
Hợi là năm 1876. Thật ra năm Ất Hợi chỉ có thể là năm 1875, và sở dĩ “nhà văn”
Trương Vĩnh Kư cho năm Ất Hợi vào cái tựa là bởi ngày ông khởi hành (14/01/1876)
tính theo ngày ta hăy c̣n là ngày 18 tháng Chạp năm Ất Hợi (1875), có ghi rơ
trong quyển sách (“Chuyến Đi Bắc Ḱ năm Ất Hợi”). C̣n cách gọi “Kỳ” là cách gọi
do vua Minh Mạng đặt ra. Sau năm 1945, “Kỳ” được thay bằng “Bộ” và ở phía Nam,
“Kỳ” tạm đổi ra thành “Phần” hay “Miền”.
Cuốn “Chuyến Đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi” (xin viết tắt CĐBK) dài khoảng 42 trang, chia
làm 62 tiết mục. Đại khái tựa các tiết mục viết như: Tới Cửa Hàn, Tới Hải Pḥng,
Đi thăm Lănh Sự, v.v. Có tiết mục dài gần cả một hai trang, có thứ chỉ một ḍng
chữ. Thí dụ: Tỉnh Hà Nội: Tỉnh Hà Nội từ Đ qua T. 25 dặm, từ N. qua B. 129 dặm.
Để ư cho đến đầu đời chữ quốc ngữ, đơn vị đo lường (dặm, trượng, thước, tấc) vẫn
c̣n có vẻ theo sát hệ của Trung Hoa, chưa được hay bị Tây hoá. Ông Trương chỉ
mới bắt đầu viết tắt Đ cho hướng Đông, T. cho Tây, theo kiểu Pháp l’Est (E) và
l’Ouest (O). Thí dụ tiêu biểu cho lối dùng: dặm-trượng-thước-tấc [1 dặm=1 lư(里)=500mét;
1 trượng(丈)=2 bộ(步)=3.33mét; 1 thước(xích 尺)=0.333m, 1 tấc=1 thốn(寸)= 3.33cm],
t́m thấy trong miêu tả về thành Bắc Ninh trích từ trang mạng: http://www.panoramio.com/photo/11967296,
dựa vào tài liệu “Bắc Ninh tỉnh Chí”, soạn thảo vào năm Tự Đức thứ 19, do Viễn
Đông Bác Cổ chép lại:
“Bên ngoài tường thành dài 532 trượng, 3 thước, 2 tấc. Tường thành cao 9 thước,
trên thành rộng 1 thước, 8 tấc, dưới chân thành rộng 3 thước, hào rộng 9 trượng,
sâu 1 trượng. Thành có 4 cửa, mỗi cửa cao 1 trượng, 1 thước, 5 tấc. Trong ḷng
cao 9 thước, 7 tấc, bề ngang cao 7 thước, 2 tấc. Trên 4 cửa đều có 4 ngôi lầu,
cùng với 6 góc đều đặt xưởng pháo.”
Chuyện ngộ nhận năm Ất Hợi là năm 1876 hoàn toàn gây bởi tác giả ngay ở ḍng chữ
mở đầu quyển sách:
Năm Ất Hợi (1876), băi trường tham biện vừa xong, vùng tính đi ra Bắc chơi một
chuyến cho biết. Trong bụng muốn cũng đă lâu; nên xin với quan trên, nhơn dịp
chiếc tàu Duchaffaud đi mà đi. Về sắm ḥm rương áo quần. Rủ thầy ba Hớn với ông
sáu Th́n, nguyên một người ở tỉnh Bắc Ninh, một người ở Sơn Tây mà vào trong Nam
Kỳ đă lâu, đi theo trước là cho có bạn, sau nữa là cho họ về thăm quê quán.
Qua ngày 18 tháng Chạp đề huề xuống tàu. Sớm mai giờ thứ 9 rưỡi nhổ neo. Vợ con
đi đưa, ngồi xe đi rảo trên bờ cho đến tàu quay trở rồi ríu ríu chạy xuống đồn
Cá Trê, mới về. Xế giờ thứ hai ra cửa Cần Giờ, chỉ mũi chạy ra mũi Né.
Khi Trương viết “Năm Ất Hợi (1876)” trong đầu ông hoàn toàn nghĩ đến năm ta, bởi
lúc khởi hành (ngày 18 tháng Chạp) hăy c̣n thuộc tháng Chạp năm Ất Hợi mặc dù
ngày Tây đă qua đến 14 tháng Giêng 1876. Chuyến đi thăm Bắc Kỳ này kéo dài cho
đến ngày 26 tháng 3 năm Bính Tư (tức 20 tháng 4 năm 1876) th́ ông Trương mới trở
lại Sài-G̣n:
Sau hết từ giă quan quyền tây nam và kẻ quen biết hết cả, ngày thứ 7, 21 tháng 3
(le 15 avril) giờ thứ 1 xuống tàu, qua giờ thứ 3 chạy ra ngă cửa Cấm; chạy luôn
qua ngày thứ 2 giờ thứ 10 vô vùng Hàn bỏ neo đậu lại; trên thủ ngữ đem ông trạm
xuống, giờ thứ 1 lấy neo chạy ngay về Gia Định, giờ thứ 5 sáng ngày thứ 5 là 26
tháng 3 (20 avril) vào cửa Cần Giờ. Giờ thứ 11 lên tới Sài G̣n gieo neo đậu lại.
Mướn đ̣ chở đồ và người về thẳng nhà. Trong nhà không ai dè, vô tới bến mới hay.
CHUNG
Tựu trung chuyến đi “tham quan” phía Bắc này của họ Trương kéo dài khoảng 70
ngày. Thời gian kéo dài hơn dự tính ban đầu bởi ông Trương bị trễ tàu hai ba lần
khi ở đất Bắc. Nhưng ông vẫn cho cái xui thật ra là cái hên, bởi nhờ ở chuyện
nhỡ tàu—thời đó có vẻ như mỗi tháng mới có một chuyến xuyên Việt—ông mới có dịp
đi được nhiều nơi đất Bắc và ghi lại khá đầy đủ (theo tiêu chuẩn viết văn xuôi
thuở đầu tiên) đời sống và sự kiện xă hội phía Bắc vào cuối thế kỷ 19.
Tóm lược hành tŕnh chuyến đi Bắc Ḱ của họ Trương như sau (ghi theo lịch ta):
- Ngày 18 tháng Chạp: khởi hành từ bến sông Sài G̣n (tàu Duchaffaud).
- Ngày 21: đến cửa Hàn (c̣n có tên Tourane - Đà Nẵng). Nghỉ qua đêm.Ngày 25: đến
Cát Bà. Chuyển sang tàu Aspic đến Hải Pḥng.
- Ngày 26 tháng Chạp: thăm quan lănh sự M. Turc. Nghỉ đêm tại nhà trọ chú khách
Wan Sing.
- Ngày 27: đến Hải Dương. Gặp tổng đốc Phạm Phú Thứ. Ăn Tết tại Hải Dương cho
đến mồng 6, lên vơng đi đường bộ đến Hà Nội.
- Mồng 7 Tết năm Bính Tư: Nghỉ đêm ở Cẩm Giàng. Tối đến Hà Nội.
- Mồng 8 Tết: đi thăm ông De Kergaradec, lănh sự Lang Sa tại Hà Nội. Đi coi cảnh
chùa tổng đốc Nguyễn Đăng Giai lập khi xưa. Xem Hồ Hoàn Gươm (Gươm phát âm theo
kiểu tiếng Quảng Đông [gim] và Kiếm theo kiểu Hẹ [kiam] 劍). Tối ăn cơm với lănh
sự.
- Mồng 9 Tết: tiếp tục tham quan Hà Nội. Gặp các cố đạo người Pháp (mang tên
Việt).
- Mồng 10-11 Tết: Đi mua sắm. Tối đi ăn cơm với một thương gia gốc Quảng Đông.
- Ngày 12 tháng Giêng: gặp tổng đốc Hà Nội Trần Đ́nh Túc (gốc Quảng Nam): “Người
đă lớn tuổi ngoài 70, mà c̣n sơi lắm”.
- Ngày 13 tháng Giêng: Cho ông sáu Th́n đi mua đồ vặt.
- Ngày 14, 15, 16 tháng Giêng: chiều chiều đến quan thượng ăn cơm. Quan Thượng
cho một ông đội hầu đem đi dạo coi các nơi chơi. Những nơi thăm viếng: đền Kính
Thiên, Cột Cờ, đền Công, ông Thánh Đồng Đen (Trấn Vũ), chùa Một Cột, hồ Tây, Văn
Thánh Miếu, v.v.
- Ngày 17 tháng Giêng: ông Sáu Th́n và thầy Ba Hớn từ Bắc Ninh trở lại.
- Ngày 18 tháng Giêng: từ giă mọi người. Vào dinh quan thượng từ tạ mà về.
- Ngày 19 tháng Giêng: đi theo đường sông xuống tỉnh Hải Dương.
- Ngày 20: đến Hải Dương. Tác giả tạm ngưng viết về chuyến đi và dành trên 15
trang miêu tả về nhân sự, địa lư, lịch sử, phong tục ở Hà Nội, và tỉnh Hải Dương.
- Ngày 22: đi Hải Pḥng.
- Ngày 23: chiều tới Hải Pḥng. Gặp lănh sự M. Turc mới hay chiếc tàu về Gia
Định đă lấy neo chạy hồi trưa đi rồi. Trương và đồng hành ở nán lại chờ tàu khác,
định đi theo tàu về Hương Cảng trước rồi về Nam sau. Nhưng đợi măi không thấy
tàu ra mới tính đi qua Nam Định, Ninh B́nh, Thanh Hoá, Hưng Yên cho biết.
- Mồng 3 tháng Hai: khởi hành đi bằng đ̣ và thuyền qua Nam Định.
- Mồng 5 tháng Hai: tới Nam Định. Ăn cơm dưới ghe dưới đ̣. Xong rồi lên thăm các
cha sở. Tối ngủ nhà cụ Nghiêm (ông Petrus Kư ưa gọi Cha bằng Cụ).
- Mồng 6 tháng Hai (nhằm ngày Thứ Tư Lễ Tro (Gio)): Tổng đốc Nguyễn Trọng Hiệp
đi vắng—c̣n lại quan bố chánh Nguyễn Đức Trạch, quan án sát Nguyễn Tải, theo lời
dặn tổng đốc cử một ông đội, một ông thông phán và 10 lính ra hầu. Trương viết
sơ lược giới thiệu tỉnh Nam Định.
(Ghi Chú: Bố Chánh là quan lo việc hành chánh thuế má dưới Tổng Đốc (hay Tuần
Phủ), nhưng trên quan Án Sát, phụ trách quân sự.)
- Mồng 7: Trưa khởi hành đi Ninh B́nh, ghé qua Phát Diệm trước. Mục đích là thăm
Cụ Sáu, tức linh mục Trần Triêm, triều đ́nh đổi tên thành Trần Lục, Cha xứ Phát
Diệm 34 năm sau một thời gian ở tù v́ theo đạo.
- Mồng 8: Tối đến Phát Diệm, cho người đem thiệp lên tŕnh. Cụ Sáu (Cha Trần Lục)
cho người rước lên nhà vuông xơi nước; sau mời lên lầu chuyện văn cho tới giờ
thứ 11 mới phân nhau ra đi nghỉ. Petrus Kư ghi lại vài bài thơ vịnh tức cảnh.
- Mồng 9, 10: Gặp các cố từ Ninh B́nh đến. Hàn huyên tṛ chuyện.
- Ngày 11 tháng Hai: từ giă các Cụ đi Thanh Hoá. Miêu tả thắng cảnh: Lă Vọng,
hang Thị, động Từ Thức. Sau cùng đến Khan Dừa. Thăm Cụ Đệ.
- Ngày 13 tháng Hai: đến Thanh Hoá lúc giờ thứ 2 rưỡi sáng. Petrus Kư dành vài
trang mô tả tỉnh Thanh Hoá và Ninh B́nh.
- Ngày 14 tháng Hai: Khởi hành đi Ninh B́nh. Ngủ tối ở bến đ̣ Triên.
- Ngày 15 tháng Hai: Qua sông, qua đ̣. Đến Ba Giội (Tam Điệp), xuống cáng đi
chơn mà coi chơi cho biết. Ngủ đêm ở quán Gành.
- Ngày 16 tháng Hai: Sáng sớm đến Ninh B́nh. Ăn cơm tại nhà bà phó Vàng, người
có đạo trong tỉnh. Sau bữa cơm, quan tuần phủ Đặng Xuân Toán cho lănh binh ra
mời vô thành hữu. Dân chúng nghe có người Gia Định đến kéo nhau đi theo coi rất
đông. Lần trước đó, nhiều người đến xem cho biết người Gia Định thế nào, là lúc
Trương và các đồng hành ghé thăm Cụ Đệ. Sau khi thăm quan tuần, quan án Đồng Sĩ
Vịnh, mời về đ́nh nói chuyện. Khi giă từ, người có biếu 2 b́nh trà và 20 quan
tiền.
- Ngày 16 tháng Hai: Buổi chiều đi thăm cảnh vật lịch sử: chùa ở ngă ba Non nước,
kinh Ma, đ̣ Khuốt (Đoan vi), núi Kẽm Trống, v.v. - rồi đi Sở Kiện.
- Ngày 17 tháng Hai: nhằm ngày chúa nhựt đúng lễ Reminiscere, đến nhà thờ Sách
Đoán vào lúc sáng sớm. Nơi đây gặp rất nhiều các cố và gặp Cụ Chất (90 tuổi),
chính cụ xứ đó.
- Ngày 24 tháng Hai: Buổi trưa về tới Hà Nội. Vào trường thi thăm lănh sự de
Kergaradec. Trưa đi dạo hàng khay. Tối về ăn cơm và ngủ tại nhà Đức cha.
- Ngày 25 tháng Hai: Nhằm ngày chúa nhựt Oculi, đi xem lễ. Vào thăm các quan
Lang Sa ở trường thi. Được quan điền hộ Jardon mời ăn cơm. Trưa đi thăm tổng đốc
Trần Đ́nh Túc.
- Ngày 26 tháng Hai: Sau bữa cơm với lănh sự và vợ chồng Directeur du Génie (giám
đốc công chánh), từ giă đi Hải Pḥng. Vừa đi vừa tham quan nên tốn đến 4 ngày
mới đến Hải Pḥng (29 tháng 2).
- Ngày 29 tháng Hai: Lại hụt tàu l’Indre đă nhổ neo đi rồi. Ở Hải Pḥng đến 21
ngày chờ khi có tàu Surcouf mới về được. Ở đậu nhà ông Tham biện Cư (cụ Thơ).
Ông Sáu với thầy ba th́ mướn một căn nhà gần đó.
- Ngày 21 tháng Ba (le 15 avril): từ giă mọi người lên tàu trở về Sài G̣n.
- Ngày 26 tháng Ba (20 avril): về đến bến Sài G̣n: Trong nhà không ai dè, về tới
bến mới hay.
Nh́n chung, quyển CĐBK, xin phép nhắc lại là một trong những tập văn xuôi đầu
tiên—sau quyển Chuyện Đời Xưa (1866), đă đạt được một tiêu chuẩn hết sức độc đáo,
với lối hành văn hết sức giản dị, mà ai biết đọc biết viết chữ quốc ngữ đều có
thể hiểu được những sự việc tác giả muốn ghi lại. Ngày nay, người Việt vẫn có
thể hiểu được nếu chịu khó t́m ṭi tra cứu một vài từ nay đă mất tính phổ biến.
Những thứ từ này khi mang gốc Thái-Mường, khi mang gốc các phương ngữ thuộc gốc
Bách Việt xa xưa. Xin tŕnh bày một số từ đă tra cứu được:
• Vùng: “băi trường tham biện vừa xong, vùng tính đi ra Bắc chơi…”—vùng
mang nghĩa đặc biệt ít có từ tương đương trong tiếng Việt hiện đại. Nghĩa: “chợt
nảy ra ư tưởng”/“chợt quyết định” trong đó mang hàm ư “nhanh nhẹn/lanh lẹ”—tương
đương Anh ngữ là “nimble”, “alert”, “agile”, “clever conception”, … Có liên hệ
mật thiết với tiếng Thái [waawng], [waawng wai], hoặc [wuup], mang nghĩa “bỗng
nhiên”, “đột nhiên”. Để ư [wuup] tiếng Thái mang liên hệ với tiếng Việt “vụt”
trong “vùn vụt” mang nghĩa “thật nhanh”. [Vụt] cũng có móc nối với tiếng Quảng:
聿 [jyut], với nghĩa tiếng Anh: nimble, agile, alert, v.v. giống như “vùng”. [Vụt]
đọc theo kiểu Nam là [byụt] hay [bụt] tương đương với tiếng Quảng [but] 勃 mang
nghĩa “chợt”, “bất chợt”. Để ư: chữ Vùng mang nghĩa Area/Zone, viết theo
chữ Nôm mang âm đầu là [B], chứ không phải [W] hay [V]: Vùng=Thổ+Bông (Kiều,
bản Taberd) hay Vùng=Thủy+Bông (Kiều, bản Chu Mạnh Trinh). Ghi chú thêm:
năm 1875 Petrus Kư được bổ nhiệm làm Chánh Đốc học trường Tham biện Hậu Bổ
(College des Stagiaires). Do đó, “băi trường tham biện vừa xong” cho biết hành
tŕnh đi Bắc Kỳ của họ Trương xảy ra vào dịp băi trường (nghỉ hè). “Tham biện”
là một chức vụ hành chánh ngang hàng cấp tỉnh, xưa gọi quan Bố Chánh.
• Coi hát bội cho no: Cả hai từ “coi” và “xem” đều có gốc tiếng Quảng và
Hẹ: 瞧 [sam] Quảng, 瞻 [tsam] Hẹ, 睬 hoặc 瞿 mang phát âm [coi] hay [keoi] trong
tiếng Quảng. Tất cả các thứ từ mang gốc Bách Việt này đều mang nghĩa: to look,
to glance, to view. Thế “no” nghĩa là ǵ? Ngày nay ta thường dùng từ kép
“no đủ”—và “no” trong “no đủ” mang nghĩa rất giống “đủ”. “No” mang gốc tiếng
Thái (Mường) [neuua] (thường dùng theo kép [neuua neuua]) mang nghĩa
“completely”, “fully”, tức “đầy đủ”, với “đủ” mang dây móc nối với [dtodo] tiếng
Myanmar. Tiếng Hàn (Korean) tương đương với [no] là [nok-nok] cũng một từ kép.
• Hỏi thăm hỏi lom: Petrus Kư vẫn ưa dùng lối “lập đi lập lại” theo kiểu
các thứ tiếng Thái, Khasi, Lahu, và tiêu biểu trong tiếng Việt: lương ba cọc ba
đồng, khi khổng khi không, liên thoa liên thuyên, khuya lơ khuya lắc, chổng cọng
chổng càng. “Lom” khác với “nom” (từ chuẩn hiện nay) chỉ ở phụ-âm đầu [l] và
[n]. Trong một môi trường không phụ thuộc vào lối đánh vần chữ cái a-b-c tức mẫu
tự Latinh, chúng ta thấy rất khó phân biệt giữa hai phát âm khác (dựa trên đánh
vần theo a-b-c) [lom] và [nom] bởi vị trí lưỡi chạm vào “ổ răng” khi phát âm [lom]
và [nom] rất gần với nhau. Phân biệt này chỉ xảy ra với môi trường quốc ngữ dựa
trên a-b-c. Đa số những tiếng ở phía Nam Trung Hoa đều phát âm thoải mái [Yuet
Lam] thay cho [Yuet Nam] (Việt Nam).
• Sáng bửng tưng ra có đi. Để ư đến “bững tưng”—tức “bừng sáng”. Trong
quyển “Chuyện Ỷ Lan và Nôm Lục Bát của Trương Thị Ngọc Trong” soạn năm 1759 có
chép sao trong quyển “Hồ Xuân Hương—thiên t́nh sử” của Hoàng Xuân Hăn (2002) (Nxb
Văn Học) có cụm từ tương đương: “trời bừng tưng” (trời bừng sáng). Tưng
mang gốc Hẹ瞳 [tung] nghĩa “mặt trời mọc” (rạng đông/trời sáng). C̣n Bừng
liên hệ đến Quan thoại [bing] hay [beng], hoặc tiếng Quảng Đông [bing] 炳 hay日丙hoặc
苪 mang nghĩa “sáng”, “soi sáng”, giống như tiếng Hẹ [pun] 賁. [Beng] hay [Bing]
tiếng Hoa Nam (tức Bách Việt xưa) cũng mang biến âm B́nh trong hai chữ B́nh minh.
• sau nước dẫy lên hoài làm nên lụt; lúc ấy lo giữ bờ đê quai nhặt lắm (Viết
về sông Nhĩ Hà). Ai cũng có thể đoán “quai nhặt” mang nghĩa “khó khăn”, “khó
giải quyết”. “Quai” tương đương với tiếng Quảng [gaai] 解 nghĩa: “giải
quyết một vấn đề khó khăn”. “Quai” cũng mang gốc tiếng Thái [khwaay]. C̣n “nhặt”
liên hệ với “ngặt”, âm Quảng Đông là [ngaak] (phát âm tiếng Ngô-Việt là [gnat])
厄 cũng mang nghĩa “khó khăn”, gần nhất với tiếng Lào [nyàhk] hay Thái [yaak].
• Người đă lớn tuổi ngoài 70, mà c̣n sơi lắm (tổng đốc Hà Nội Trần
Đ́nh Túc). “Sơi” nghĩa “tráng kiện” (c̣n “gân”)—liên hệ với từ Thái [soo khee],
hoặc Quảng Đông 偲 [soi], với nghĩa “khoẻ mạnh”.
• c̣n thịt tái thịt thấu ngon có tiếng—“Thịt thấu” phản nghĩa với
“thịt tái” (c̣n sống). “Thịt thấu” nghĩa “thịt ướp muối”, “thịt khô” hay “thịt
đă nấu chín”. “Thấu” có thể liên hệ với [sau] Quảng, [siau] Hẹ (thịt ướp, thịt
khô), hay 灼 [tsoek] Quảng (thịt luộc), hoặc 脩 [sau] (Quảng) (thịt khô). Chữ
“tái” trong “thịt tái” có gốc Quảng Đông: 剔 [tai], với nghĩa “thịt tươi đă lóc
xương”.
• Coi sách, viết lách cho no, rồi lại đánh cờ. “Viết lách” sẽ cho
thấy tính cách hợp ngữ của tiếng Việt. “Viết” xuất xứ từ thời xa xưa, mang nghĩa
“nói”, “dạy bảo”: Khổng Tử viết… Phát âm quan thoại là [yue] với Hán tự 曰. Tiếng
Miến Điện (Myanmar) có âm gần giống [yiết] là [yei-de]. Tiếng “Trung” ngày nay
dùng “tả” 寫 [xie] cho “write”. C̣n “lách” hoàn toàn là một âm mang gốc Quảng
Đông cho động từ “viết”: [laak] 泐, mang liên hệ với tiếng Bengali [lekhen]. Trở
lại với âm quốc ngữ [viết] (to write). Từ điển Alexandre de Rhodes xuất bản năm
1650 ghi [viết] thời đó kư âm như [βiết] dùng một kí âm đặc biệt thay cho mẫu tự
[β] tiếng Hy Lạp, tức âm [By] của Mường, Trung và Nam bộ. Tự điển De Rhodes cũng
có ghi chữ [Byiết] có nơi phát âm là [viết]. Và [viết] chính lối phát âm chữ [yue]
曰, của tiếng Hàn (Korean) [wal] và một số Việt tộc phía Bắc nước Trung thời xa
xưa, c̣n lưu lại qua phát âm [uat] tiếng Mân Việt, tức Phúc Kiến.
• mưu mô gan dạ cũng hung. (Viết về cha Trần Lục). “Hung”
là một từ mang gốc Quảng, hiện vẫn thông dụng ở Trung và Nam bộ. Mang nghĩa
“rất” hay “nhiều”. Phát âm Quảng Đông y hệt: [hung] và có thể viết theo 孔 hay 凶.
Cách viết thứ nhất (孔) c̣n có phát âm là [khổng] dùng trong “Khổng Tử” [Kong Zi],
cách viết thứ hai (凶) c̣n mang nghĩa: hung dữ, hung thần. Chữ “hung” cho thấy
một thứ chuyển nhượng toàn bộ từ vựng (từ các “thành phần ngữ” sang tiếng Việt),
chứ không phải đơn thuần “vay mượn” theo kiểu lư giải của khoa ngôn ngữ học. C̣n
chữ “rất” (very) có liên hệ với từ 郅 [zat] phát âm theo tiếng Quảng Đông. “Lắm”
(extremely) cũng mang gốc tiếng Quảng [lam] . Từ phổ biến cho [rất] hay [lắm]
hiện nay là “cực” hay “cực ḱ” vẫn mang gốc Bách Việt: [cực] liên hệ đến tiếng
Quảng [gik] 極, và [ḱ] liên hệ đến tiếng Hẹ [ki] viết theo 已 hay 巨.
Phần trên cho thấy một số từ vựng của tiếng Việt, hiện rất ít dùng. Sẽ bàn thêm
trong phần Ghi Chú ở dưới. Rất khó có thể chẩn đoán rằng từ vựng hiện ít dùng đó
thuộc một loại phương ngữ nào, và cách an toàn và có nhẽ chính xác nhất là sắp
xếp chúng vào loại từ vựng ngày nay ít c̣n phổ biến.
Đọc kỹ CĐBK hơn, chúng ta sẽ thấy Petrus Kư dùng cú pháp tiếng Việt rất giống
“văn nói” hằng ngày, hay văn cổ xưa, ít dùng chủ từ. Xin đưa ra vài thí dụ về cú
pháp không cần Chủ từ trong tiếng Việt: (1) Ăn chưa?—Đáp: Ăn rồi. Hỏi lại: Ăn
rồi à? - Khẳng định: Dạ ăn rồi. (2) Công tác anh giao—làm xong rồi. Để ư: “cụm
túc từ” (Công tác anh giao) vẫn có thể đặt trước [chủ từ] và “cụm động từ” (làm
xong rồi). “Chủ từ” hoàn toàn vắng bóng trong câu trên. Câu này vẫn có thể dùng
làm câu hỏi (?) với thanh điệu thay đổi, và cũng dùng làm câu trả lời. Hơn thế
nữa: “anh” vừa dùng cho “tôi” (đại danh từ thứ 1) trong câu hỏi - vừa là đại
danh từ thứ 2 (Anh) trong câu trả nhời. Lại hơn thế nữa, trong câu đáp, “chủ từ
vắng bóng” có thể mang hai ba nghĩa: Công tác anh giao, em làm xong rồi
// Công tác anh giao, Tuấn làm xong rồi // Công tác anh giao, tụi
nhỏ làm xong rồi.
Lối hành văn không “chủ từ” xuất hiện ngay trong câu đầu, như đă chép lại phía
trên, và gần như đoạn nào cũng có. Thí dụ khi nhắc tích ông Nguyễn Thuần đi t́m
con cháu nhà tiền Lê, “lo lấy nước lại” (giặc nhà Minh), Petrus Kư viết: “Đi bơ
vơ, tối chun xả vô cái miễu ở dựa mép đường đi mà ngủ. Khuya lại nghe tiếng kêu:
ớ anh! Sao chưa sắm sửa đi chầu? Th́ nghe tiếng đáp lại rằng: Thôi anh có đi,
th́ xin kiếu giùm cho tôi chút,…”. Tiếng Việt trước thời chịu ảnh hưởng các thứ
tiếng Tây Phương, vẫn mang cố tật ít khi dùng chủ từ. Thí dụ:
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
(Bà Huyện Thanh Quan)
Hoặc:
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng
(Lê Thánh Tông)
Hay:
Rắp mong treo ấn từ quan,
Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng qua
(Nguyễn Du)
Chúng ta cũng có thể để ư cái mốt viết tiếng Việt có gạch-nối cho những thứ
danh-từ, động-từ kép, rất thịnh-hành ở khoảng đầu thế-kỷ 20, không thấy dùng
trong quyển CĐBK của Trương-Vĩnh-Kư. Điều này cho thấy tiếng Việt đă chạy một
cái ṿng trở lại chỗ cũ (không dùng gạch-nối trong văn viết) sau hành tŕnh ngót
một trăm năm.
Xin điểm sơ qua về nội dung quyển CĐBK.
Những ai từng đọc qua bộ “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quư Đôn, đều thấy rơ ảnh
hưởng rất đậm của bộ sách này trong CĐBK của Trương Vĩnh Kư. Đó là lối viết văn
theo kiểu Bách Khoa—một nhu cầu căn bản và thiết thực trong một xă hội mà kiến
thức phổ thông, hiểu biết về sử kư địa lư hăy c̣n yếu ớt. Tuy nhiên vẫn có khác
biệt giữa “Vân Đài Loại Ngữ” và “Chuyến Đi Bắc Ḱ”, và đó là quyển CĐBK viết
bằng chữ quốc ngữ, tŕnh bày những sự kiện lịch sử, địa lư và văn hoá tại bản
địa—tức đ̣i hỏi tác giả phải nghiên cứu và tra khảo những dữ kiện này qua số
sách vở hiếm hoi cũng như những thông tin bản địa do người xưa kể lại, hoặc
những nhận xét thu thập từ việc mắt thấy tai nghe.
Xin thử trích một vài đoạn tiêu biểu:
Đi Lên Hà Nội: Các quan cầm ở lại đó chơi, ăn tết rồi hăy lên Hà Nội. Khi
ấy là mùa đông, trời rét lạnh nên ăn ngon cơm lắm. Mấy bữa ấy, hội các quan lớn
nhỏ cả tỉnh đủ mặt; khi ăn khi uống chuyện văn cả đêm cả ngày. Quan đại lại bày
làm rạp hát cho ba bữa luôn, coi hát bội cho no, rồi lại hát nhà tṛ. Vui vầy
với nhau thế ấy cho tới mồng 6 tết, chiều giờ thứ nhứt mới lên vơng lên cáng mà
đi đường bộ lên thành Hà Nội. Trước hết nghỉ chơn tại cái chùa kia. Qua cung sau,
nghỉ Ngạt Kéo, mặt trời chen lặn tới huyện Cẩm Giàng. Ông huyện tên là Dương
Xuân ra rước vô nhà ngủ đó. Sáng, cơm nước rồi giờ thứ 8 từ giă ra đi.
(Ghi Chú: (i) thời gian tại Hải Dương - ngày 27 tháng Chạp cho đến mồng 6
tết; (ii) “Qua cung sau”—cung mang nghĩa đơn vị thời gian, thường là “ngày”,
hay “một suất công tác”—liên hệ đến [kung] 工 tiếng Hẹ, cùng ư nghĩa).
Đền Công: Đi lại cửa tây ra ngoài thành đi coi đền công. Chỗ ấy huyền vũ
có cây cao lớn sum sê rễ nó xô xà leo với nhau như rê, mát mẻ, im rợp quá.
(Ghi chú: huyền vũ một thứ từ cổ ngày nay ít khi dùng. Có thể tương đương
với huyễn vũ mang nghĩa “rực rỡ tốt tươi”, hoặc hoàn vũ, nghĩa
“đẹp nhất chốn gầm trời”, v.v.).
Ông Thánh Đồng Đen: Ra cửa ô Bưởi đi coi chùa Trấn Vơ quan, tục kêu là
ông thánh đồng đen, ở một bên mép hồ Tây. Tượng ấy là tượng ngồi cao lên tới nóc
chùa, đúc bằng đồng đen cả. Tóc quăn như đầu Phật; mặt cũng tựa tựa; c̣n từ cổ
sắp xuống th́ ra như h́nh ông thánh Phao lồ, một tay chống lên trên cán cây gươm
chỉ mũi lên trên mu con rùa, một tay th́ ngay ngón trỏ mà chỉ lên trời, chơn th́
đi dép. Có chữ đề mà đă ṃn đă lu đi coi không ra.
(Ghi chú: [lu] = [mờ]—lu gần tiếng Thái [luaa] và mờ gần
với [muaa], cũng mang nghĩa: faded, vague, dim, murky, blurred, unclear).
Chùa Một Cột: Coi rồi mới đi đến xem chùa Một Cột; là cái miễu cất trên
đầu cây cột đá lớn trồng giữa ao hồ.
Nguyên tích ai lập ra th́ người ta nói mờ ớ, không biết lấy đâu mà chắc cho mấy.
Cứ sách Sử kư và Đại Nam nhứt thống chí, th́ chùa ông thánh đồng đen kêu là Trấn
Vơ quan tự, ở về huyện Vĩnh Thuận, phường Đoan Chương đời nhà Lê, năm Vĩnh Trị
năm Chánh hoà, vua Hi tông (1675) sửa lại đúc tượng đồng đen cao 8 thước 2 tấc,
nặng 6600 cân, tay hữu chống trên cây gươm, chỉ mũi trên lưng con rùa, có rắn
vấn doanh theo vỏ gươm. Trong sử nói đời Thục vua An Dương Vương bị tinh gà ác
và phục quỉ núi Thất điệu, mà nhờ có thần trên núi Xuân lôi thuộc về tỉnh Bắc
Ninh trừ ma phá quỉ hết đi, th́ vua dạy lập miễu phía bên bắc thành vua mà thờ,
đặt hiệu là Trấn thiên chấn vơ đế quân.
(Ghi Chú: (i) vấn doanh=quấn quanh—vấn dựa vào âm Hẹ [van] (園 hay
環), hoặc Quảng Đông [waan] 園, và doanh dựa vào tiếng Quảng Đông [jyun] 園
hay quan thoại [juan] 圈, cả hai (vấn và doanh) mang nghĩa: encircle, surround,
hay around (bao quanh, ṿng quanh). C̣n “quấn quanh” có quấn dựa vào
tiếng Hẹ [kwan] 圈 hay 環, và quanh tiếng Quảng Đông [waan] 環, mang nghĩa
“around”. (ii) Chữ “Chùa” mang nghĩa Pagoda hay temple, có gốc tiếng Triều Châu–Phúc
Kiến (với phát âm [Chou]), tương đương với [tự] tức 寺 [si] quan-thoại. Kiểu
tương đương âm [t] với âm [Ch] tiếng Việt (tự→chùa), c̣n thể hiện qua [tự] hay [từ]
(word) với [Chữ] (letter, word) cũng mang gốc Triều Châu-Phúc Kiến ([Chu]) - với
cách viết 書 vẫn c̣n mang nghĩa “letter”, “word” ngoài nghĩa phổ thông là “sách”
(thư). Ảnh hưởng tiếng Mân-Việt (Triều Châu-Phúc Kiến) trong tiếng Việt là do ở
triều đại nhà Trần mang vào.)
Thuở Minh Mạng năm thứ 2 vua ngự ra Bắc có ban 50 lượng bạc, lại một cái áo vơ
tư vàng. Năm Thiệu Trị thứ 2, vua ngự có ban tiền vàng 1 đồng, áo vàng 1 cái, 1
bài thơ, và 1 đôi liễn nữa.
C̣n chùa Một Cột, th́ cũng ở hạt huyện Vĩnh Thuận, làng Thanh Bửu, ở giữa cái hồ
vuông, có trụ đá cao trót trượng, yêu viên chừng 9 thước, trên đầu có cái
miễu ngói chồng lên, như cái hoa sen ở dưới nước ngóc lên. Sử chép rằng: Thuở
xưa vua Lư Thái Tông nằm chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi toà sen dắt vua lên
đài. Tỉnh dậy học lại với quần thần, sợ điềm có xấu có hề chi chăng. Th́ thầy
chùa thầy săi tâu xin lập ra cái chùa thể ấy, đặng cho các thầy tụng kinh mà cầu
diên thọ cho vua, th́ vua cho và dạy lập ra.
(Ghi chú: yêu viên = chu vi. “Yêu” có thể từ chữ [jiu] 繞 Quảng Đông,
nghĩa: “đi ṿng quanh” hay [jiu] 腰 cũng Quảng Đông, mà quốc ngữ kí âm là “eo”
(waist). C̣n “Viên” mang ảnh hưởng của “phương viên” 方圓 [fang yuan] nghĩa “châu
vi” [zhou wei]. “Phương viên” có thể thay nôm-na bằng “vuông tṛn”).
Qua đời vua Lư Nhân Tông sửa lại. bồi bổ, lập tháp, đào ao, xây thành, làm cầu,
tế tự, hễ tháng tư mồng 8 vua ngự ra đó ḱ yên. Lại đúc chuông, mà đúc rồi,
chuông đánh không được kêu, nên bỏ ra ngoài Qui điền. Đời vua Lê Thái Tổ đánh
giặc với quân nhà Minh, vây trong thành Đông Quan binh khí hết đi, nên quân Minh
lấy mà đúc súng đúc đạn đi.
(Ghi chú: ḱ = cầu. “Ḱ” mang gốc Quảng Đông 祈 [kei], c̣n “cầu”
tương đương với 求 [kau], nghĩa “pray” (cầu xin), nhưng cách dùng “cầu” thường
liên hệ đến “nhân duyên” (marriage). Để ư chữ [kau] tiếng Quảng mang nhiều dấu
vết thứ tiếng Nôm tại nước Trung, bởi nếu viết theo “Hán tự” như trên, và không
đi đôi với “nhân duyên” [kau jan jyun], ngoài người Quảng. có thể rất ít người
nói phương ngữ khác của tiếng Trung có thể hiểu [kau] là ǵ. Cầu ưa đi với ḱ và
từ đó, cầu ḱ biến nghĩa thành “elegant”, “sophisticated”: ăn mặc cầu ḱ. Cũng
như chữ “kinh ngạc” có thể cho thấy là một thứ chữ Nôm trong tiếng Trung (tức có
gốc Bách Việt). Tại sao vậy? Bởi tiếng quan thoại ngày nay cho “kinh ngạc” là
[chi jing] 吃惊, tức “ăn kinh” (với [jing] (kinh) là từ chính, c̣n [chi] mang âm
Việt là “ngật”—tương đương với âm Hẹ [ngat], mang nghĩa “ăn”). Nhưng [ngat]
tiếng Hẹ lại giống âm chữ [ngạc] tiếng Việt—là âm phát ra của người Hoa (thời
xưa) hay Hẹ bày tỏ “ngạc nhiên”: [nga] hay [ngaa] hoặc [aa], viết đúng là (呀)
hay (訝). [Chi jing] tiếng phổ thông ngày nay chính là dấu vết c̣n lại của tiếng
Việt “kinh ngạc”)
Cầu: Cầu đất bắc hay làm cầu đá, cầu gạch, cầu gỗ, lại hay làm cầu lợp
ngói; chùa đ́nh cũng nhiều lắm lắm. Mà muốn biết đâu hơn đâu th́ lấy trong câu
nầy: Cầu Nam, chùa Bắc, đ́nh Đoài, nghĩa là cầu tốt hơn th́ là tại trong các
tỉnh nam; c̣n chùa chiền lớn cọc cao nóc, khéo tốt th́ tại xứ Bắc Ninh; đ́nh
làng, đ́nh chợ mà làm kỹ tốt, th́ trên miệt xứ Đoài.
Về đó ăn có tiếng ngon hơn, như trong Nam ḱ kêu chiếu Cà mau, thuốc G̣ Vấp,
rượu G̣ Cát vân vân… th́ ngoài Bắc Ḱ có cái ca như vầy: Dưa La, cà Láng, nem
Bảng, gỏi Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét (chỉ tên xứ: kẻ La, kẻ Láng, kẻ
Bảng, kẻ Bần, Vạn Vân, kẻ đầm Sét). Cơm Văn Giáp, táp (thịt tái) cầu Giền, tiền
Thanh, Nghệ. v.v.
(Ghi chú: “hay” mang nghĩa “thường” (often, usually)—gốc tiếng Thái [baawy]
với một loạt âm tương đương Việt [h]-Thái [b]: hũ-[book], há-hốc (mồm)-[bae
bpaak], hùn (vốn)-[baeng], v.v.).
(Ghi chú: “táp” (䐲) tiếng Quảng [zaap])
Khí hậu: … Tháng 9 mồng 9 có mưa th́ được mùa, không mưa th́ mất mùa. Có
lời ngạn ngữ rằng: Mồng 9 tháng 9 có mưa, th́ con đi sớm về trưa mặc ḷng; Mồng
9 tháng 9 không mưa, th́ con bán cá cày bừa con ăn. Mùa đông rét lạnh, lại có
thứ sương tục kêu là sương muối, hay hại cỏ cây lắm, rét buốt da tay chơn, như
kim châm.
(Ghi chú: “mồng” (hay “mùng”) theo tiếng Hẹ là “ngày” [mang] 明. Cũng theo
tiếng Hẹ và tiếng Quảng, [mong] 望 có nghĩa ngày rằm (ngày thứ 15 mỗi tháng).
“Rằm” mang gốc Thái [glaang], nghĩa “chính giữa” (tháng))
Phong tục: Phong tục cúng đồng như Hà Nội, có nhiều học tṛ, nghề nghiệp
thợ thầy cũng giỏi cũng khéo. Cũng hay ăn chơi, tiệc tà, kị thần, tế quỉ,
lại them cái tục chơi trâu. Việc tế tự quỉ thần hay làm lớn, tế heo trâu không
sợ hao tốn, nên có lời tục rằng: Sống làm trai Bát tràng, chết làm thành hoàng
Kiêu Kị, v́ làng ấy hay làm thịt trâu mà đơm tế thần, trâu đâu cũng đem tới đó
mà làm.
(Ghi chú: “tiệc tà”—giống như “tiệc tùng”. “Tiệc” mang âm giống [ts’it]
Hẹ (席), c̣n “tùng” hay “tà” liên hệ với tiếng Thái [dteuun dtaa] (tùng tà) mang
nghĩa “vui mừng trong bụng v́ sắp được ăn yến tiệc”. Ảnh hưởng tiếng Thái (qua
Mường) có c̣n tồn tại trong tiếng Việt không? Thưa có. Những thứ như: “cụm từ”,
“bức xúc”, “phản ánh” thay cho “phản ảnh”, “phần đa” (phần lớn), “nước tiểu” (nước
nhỏ), “đánh cược” thay cho “đánh cuộc”, v.v. là những thí dụ tiêu biểu).
Và một đoạn gần cuối:
Lúc ở đó, có làm việc quan thế cho ông tham biện Cư, khi ông đi bán năm bảy bữa,
khi đi cấm pḥng, đôi ba bữa. Có bữa cụ Thông là cụ địa phận Iphanho đi qua đ̣
vẳng nghe tiếng con gái nhỏ ở sau bong lái tàu kêu cứu. Cụ biết nó là quân bị
Ngô bắt, chạy qua tham biện báo. Ta liền chạy lại thương chánh nói với
quan Vơ túc cho triệt chiếc tàu ấy lại. Nó không muốn ghé, cho theo bắt. Cho
lính xuống soát, nó cự không cho, gặp tây làm chướng đ́nh đính kêu cây xuống với
lính mà đem ba đứa con gái lên. Nó khai rơ rằng Ngô bắt thuốc nó, c̣n một đứa
nhỏ c̣n mê thuốc chưa dă. Dạy núm co các chú Ngô đem lên đóng gong lại, tịch tàu
nó đi. Mượn hai tên lính tây canh tàu. Sau giải về tỉnh Hải Dương trị tội. Lại
có gặp chiếc tàu Hồng Mao có quan khâm phái lănh sự tới đó, lên thăm trên thương
chánh, sau có mời xuống tàu coi tàu (tàu tên là Egeria).
(Ghi chú: tiếng Việt ở thế kỷ 19 hăy c̣n phân biệt đại danh từ ngôi thứ
nhất là “TA” và “Tôi” (hay “Tui”). “Ta” dùng cho vai vế (xă hội) ít lắm ngang
hàng với (hoặc trên) người đối thoại hay người nghe, và “Tôi” (hay “Tớ”—bắt
nguồn từ “tôi tớ” (“người giúp việc”)) dùng trong trường hợp vai vế thấp hơn. (Có
thể kiểm chứng qua Truyện Kiều của Nguyễn Du). “Tui” mang gốc từ tiếng Thái [tuai]
có nghĩa “thân ḿnh” có thể ban đầu mang cách dùng hơi khác với “Tôi”—và gần với
cách gọi khá phổ biến ở miền Trung và Nam: “miềng” hay “ḿnh”).
Một điểm hết sức nổi bật t́m thấy trong CĐBK của Petrus Kư chính là những ḍng
miêu tả về phong hoá, tập tục và tín ngưỡng dân gian, được tŕnh bày hết sức
khách quan. Và có vẻ đạo thờ cúng ông bà tổ tiên chính là thứ tông giáo phổ
thông nhất ở xứ Bắc nếu không nói là cả nước ở vào thời đó. CĐBK cũng thoáng cho
thấy không hề có nạn ngôn ngữ bất đồng giữa Bắc và Nam. Ông Kư nói giọng ǵ
tiếng ǵ người miền ngoài cũng hiểu được, và ngược lại.
Nếu CĐBK cho thấy một vài khám phá mới về con người Trương Vĩnh Kư, một bức thư
gửi cho tham mưu trưởng Regnault de Promesnil tường tŕnh về chuyến đi, của
chính Petrus Kư, đă cho thấy lối hành văn bằng tiếng Tây của ông đă đi trước
thời đại hằng trăm năm. Đúng là lối viết tường tŕnh của một nhà “chuyên nghiệp”
không mang dấu vết thiên vị hay khiếp sợ trước một thế lực nào, cũ hay mới, mà
chỉ đặt đối tượng vào nhân dân và cuộc sống khó khăn của họ. Giải quyết những
vấn đề đó hoàn toàn nằm ngoài trách nhiệm và bổn phận của người viết. (Phần lớn
bản dịch bức thư này có thể t́m thấy ở trang mạng: http://petrusky.net/article.php?story=20070814130731230
). Cái khó khăn của giới ê-lít Việt Nam trong công việc đánh giá công trạng ông
Trương Vĩnh Kư, ngoài những tiêu chí xưa cũ, có lẽ c̣n vướng nặng nề ở hệ giá
trị Khổng Mạnh. Đại khái thứ hệ này không phân biệt được giai cấp chuyên gia—một
thành tố tất yếu của “hiện đại”—và thường gộp họ lại, một cách tạp pín lù, với
nhóm người lănh đạo chính trị và quân sự.
Ông Trương Vĩnh Kư cũng bật mí cho ta biết ông cũng đă thấu triệt được điểm đó.
Và cũng như Nguyễn Du với câu “bất tri tam bách dư niên hậu—thiên hạ hà nhân
khấp Tố Như”, ông Trương vẫn thích câu ngạn ngữ tiếng Latinh “Sic vos non
vobis” (Tui ở với họ chứ không phải như họ. (Những ǵ tui làm không phải cho
riêng tui).)—không khác mấy với câu ngạn ngữ Ăng Lê: “If you can’t beat them,
join them (and beat them later)”.
NN